Hòa Giải Bắt Đầu Bằng Hai Từ "Xin Lỗi"
Nguyễn Bặc
"Chúng tôi xin tạ lỗi về các luật lệ và chính sách của những quốc hội và chính phủ tiền nhiệm, đã gây ra nhiều thống khổ, thương đau và mất mát lớn lao cho các công dân Úc của chúng ta. Chúng tôi đặc biệt xin lỗi về hành động cách li các trẻ em bản địa ra khỏi gia đình, khỏi cộng đồng và đất nước họ. Vì nỗi đau đớn, niềm thống khổ và sự tổn thương của „Thế hệ bị đánh cắp“ („Stolen Generations“), của con cháu họ và gia đình bị bỏ lại của họ, chúng tôi xin lỗi. Chúng tôi gởi lời xin lỗi đến những người mẹ và người cha, người chị và người anh, đến những gia đình và cộng đồng bị li tán."
Buổi sáng 13-2-2008 có sẽ là thời điểm trọng đại không bao giờ quên trong lòng gần nửa triệu người bản địa sống tại Úc. Sau hàng chục năm từ chối, Thủ tướng Kevin Rudd của Úc đã chính thức tuyên bố xin lỗi đến người dân bản địa vì những bất công mà họ phải gánh chịu hơn hai thế kỉ kể từ khi người da trắng di dân đến Úc châu.
Bài diễn văn chỉ vỏn vẹn 361 chữ, với 3 lần lập lại từ „Sorry“, ông Rudd đã làm rơi lệ hàng triệu người dân Úc -thổ dân da đen hay di dân da trắng, da vàng. Buổi lễ được cử hành vô cùng long trọng trong quốc hội Liên bang tại Canberra, với sự chứng kiến của 4 cựu Thủ tướng Úc và khoảng 100 quan khách dân bản địa được chính phủ mời về thủ đô.
Trước trụ sở quốc hội, khoảng 7000 người dân Úc, trong đó có 1000 người dân bản địa từ khắp miền đất nước quay về, đã tụ họp để bồi hồi theo dõi buổi lễ tạ lỗi dù trời đang đổ cơn mưa. Khắp Úc châu, trong các vùng xa xôi hẻo lánh, các bộ lạc người dân bản địa cũng đã tụ tập trước các máy truyền hình để chờ nghe Thủ tướng đọc lời xin lỗi ‘Thế hệ bị đánh cắp“. Đây là cụm từ chỉ hàng chục ngàn trẻ em thổ dân bị cảnh sát và nhân viên xã hội cưỡng bức tách rời khỏi gia đình họ từ năm 1910 cho đến tận năm 1970, giao cho người da trắng, nói là để nuôi dưỡng và khai hoá, nhưng đa số đã bị bóc lột lao động tàn bạo, cưỡng bức tình dục, kì thị chủng tộc, mà bước đường cùng của đa số những người bất hạnh này là bệnh hoạn, nghiện ngập và chết sớm.
Tuy muộn màng, nhưng lời xin lỗi của Thủ tướng Úc được xem là “khoảnh khắc quan trọng của lịch sử nước Úc”. Nó đã chính thức khép lại quá khứ không tốt đẹp mấy của di dân da trắng trong 220 năm qua. Và nó đang mở ra một trang sử mới -một khung trời đầy hi vọng cho tiến trình hoà giải và đoàn kết cho quốc gia hiệp chủng này.
Trên thế giới ngày nay, không thiếu gì các quốc gia cũng rất cần một tiến trình hoà giải và đoàn kết dân tộc như vậy, và cũng rất cần một lời tuyên bố tương tự -chính thức và chân thành- xin lỗi quốc dân của người cầm quyền, để sau đó khép lại một lần cho xong cánh cửa của quá khứ đầy tang thương, rạn nứt và mất mát. Và để rồi đứng chung ngước nhìn về tương lai của dân tộc.
Việt Nam là một trong những quốc gia đó.
Hơn 6 thập kỉ thống trị miền Bắc và sau 33 năm độc quyền cai trị trên toàn quốc, nhà cầm quyền CSVN đã liên miên phạm hết sai lầm này sang sai lầm khác, triều đại của họ là một chuỗi dài các chính sách cực kì tàn bạo, triệt hạ nhiều thế hệ con người, tiêu hao nhiều tiềm năng dân tộc, mà không một lời chính thức sám hối: „Cải cách ruộng đất“ (1949-1956), vụ án „Nhân văn-Giai phẩm“ (1955-1958), vụ án „Xét lại chống đảng“ (1968-1974), thảm sát Mậu Thân ở Huế (1968), „Kê biên tài sản“, đi vùng kinh tế mới (1975-1978), đánh đuổi người Hoa (1978-1979), „cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản mại bản“ (1979-1981), chính sách „học tập cải tạo“ (1975-?),…
Riêng về chính sách „Cải cách ruộng đất“, thì một tác giả am tường là ông Nguyễn Minh Cần đã căn cứ vào thống kê chính thức của nhà nước CSVN (được đăng trong cuốn „Lịch sử kinh tế Việt Nam“ tập II), cho biết rằng đã có đến 172.008 người bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” nghĩa là không bị bắn tại chỗ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam vì bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân. Bản thống kê chính thức nói trên còn cho biết thêm là trong số 172.008 người bị hại này thì sau này người ta truy xét ra 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỉ lệ là 71,66% bị giết oan! Một tác giả khác, ông Võ Xuân Minh còn cho biết một chi tiết nội bộ kinh khủng hơn nữa: Cuộc „Cải cách ruộng đất“ tại VN được thực hiện rập khuôn chính sách „Cải cách ruộng đất“ tại Trung Cộng và tỉ lệ địa chủ đã được chính Trung ương ĐSC quy định trước là 5,68% (trang 85, tập II), nên các đoàn và đội „Cải cách ruộng đất“ đều cố truy bức để đôn tỉ lệ địa chủ lên 5% như một quy định bắt buộc (trang 86, tập II), bất kể trong vùng đấu tố có nhiều hay ít địa chủ và phú nông!
Đó là chuyện miền Bắc. Còn ở miền Nam, khi tiếp thu Sài Gòn năm 1975, sổ sách người CS đã ghi chép cẩn thận đây là một thành phố „có cơ sở vật chất, kinh tế kĩ thuật lớn nhất miền Nam, tập trung hơn 80% năng lực sản xuất công nghiệp cả miền Nam: 38.000 cơ sở công nghiệp, tiểu công nghiệp lớn nhỏ, trong đó có 766 công ti và 8.548 cơ sở công nghiệp tư nhân,…“ Tất cả là điều kiện cần và đủ để Sài Gòn đóng vai trò đầu tàu kinh tế cho cả nước, để miền Nam vực miền Bắc, đẩy cả nước trỗi dậy sau cuộc chiến tương tàn dai dẳng.
Nhưng chỉ cần một thập kỉ kinh bang tế thế theo kiểu „tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN“ với một loạt chính sách kinh tế chỉ huy đần độn tày trời như „Kê biên tài sản“, „Vùng kinh tế mới“ „Đánh tư sản mại bản“, „Ngăn sông cấm chợ“, vân vân và vân vân, thì Sài Gòn đã nhanh chóng khai phá sản, cả nước khánh kiệt và nhân dân phải ăn khoai và bo bo độn với cơm. Các chính sách „cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản mại bản“ đã giết chết mọi động lực phát triển, triệt tiêu sản xuất trong mọi ngành. Các doanh nghiệp tư nhân bị khai tử, vì bị cưỡng bức vào cái gọi là hợp tác xã, công tư hợp doanh. Tuy mang tên là „hợp doanh“ nhưng toàn bộ tài sản là của tư nhân, còn Nhà nước thì chỉ đưa người ra làm quản lý, làm giám đốc, đa số lại là những cán bộ được đưa từ Bắc vô -những người chưa hề mó tay đến kinh tế thị trường.
Riêng đối với cộng đồng người Hoa tại VN, năm 1978 trước nguy cơ chiến tranh Việt-Hoa, Hà Nội cũng dựa vào chiêu bài „cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản mại bản“ nói trên để bắt giữ và tịch thu tài sản của nhiều người gốc Hoa giàu có, với tội danh „đầu cơ tích trữ, lũng đoạn thị trường“. Những cơ sở kinh doanh thương mại hay sản xuất lớn của người Hoa đều bị quốc hữu hoá. Hàng trăm ngàn người Hoa từng sinh sống lâu đời trên nhiều tỉnh miền Bắc, nhiều nhất là Quảng Ninh, đã bị hù doạ, o ép, phải lục tục kéo nhau đi xe lửa qua ngõ Lạng Sơn để trở về TQ.
Còn những người Hoa sinh sống hài hoà lâu nay trên khắp các tỉnh miền Nam thì đã cùng chung số phận với hàng triệu người Việt khác, chịu không nổi chế độ tù đày, đàn áp CS, nên đã ào ạt tìm đường vượt biên bằng đường biển trong khoảng thời gian này. Sóng to gió lớn, hải tặc rình mò: Bao nhiêu là gia đình li tán, bao nhiêu là mất mát thương đau trên biển cả bao la! Cứ ba người ra đi, thì có một người không đến được bến bờ tự do: Pulau Bidong, Galang, Bataan, Pulau Tengah, Kuku, Hồng Kông, Khai I Dang, Sikiu, Banthad, Phanat Nikhom,…
Trong số những thuyền nhân sống sót, có rất nhiều người còn giữ tấm lòng son, sau gần 30 năm an cư lập nghiệp, đã chắt chiu chung tiền góp sức, vượt hàng ngàn cây số và hàng ngàn trở ngại giấy tờ, về lại đảo cũ, xin phép chính quyền địa phương dựng lên được 2 bia đá tưởng niệm Thuyền nhân tử nạn trên đường tìm tự do: một trên đảo Galang (Indonesia), một trên đảo Bidong (Malaysia). Vậy mà tháng 6 năm 2005, nhà nước CSVN đã dùng áp lực ngoại giao với các nước liên hệ trong ASEAN và đập thủng cả 2 bia tưởng niệm: Nhật báo Jakarta Post (Indonesia), ngày 20-6-2005 loan tin: "Chính Chủ tịch Nước CSVN (Trần Ðức Lương) đã đòi hỏi đập phá bia tưởng niệm thuyền nhân tử nạn trên đảo Galang“ và yêu cầu Tổng thống Indonesia, Susilo Bambang Yudhoyno, khẩn cấp làm việc đó!
Không, thật sự là thời điểm xoá bỏ hận thù, khép lại quá khứ chưa đến, cho dù hơn một thế hệ con người đã trôi qua, cho dù tập đoàn lãnh đạo CSVN ngoài miệng vẫn ra rả kêu gọi „khúc ruột ngàn dặm“ phải hoà hợp và đoàn kết!
Và có lẽ trong nhóm đang cầm quyền tại Hà Nội không ai có đủ cái dũng khí, trí tuệ và thành tâm của một Kevin Rudd để thốt lên được 2 tiếng "xin lỗi“!
Nguyễn Bặc