Xin Chào Vị Khách Thứ
SEARCH
    Phiếm Luận
12/14/2011 2:00:56 PM  

“Nói Phét” Kiểu Việt Cộng

Vân Hải Nguyễn Xuân Hùng

 
 

Trong cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư do ba ông Trần Trọng Kim, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận soạn để làm sách tập đọc cho học sinh Tiểu học trước năm 1945 có một chuyện “nói khoác” giữa hai người mà tôi còn nhớ đại khái như thế này:
 

Anh A:  Tôi đã nhìn thấy một trái bí to lắm.
Anh B:   To như thế nào?
Anh A:  To bằng cái  nhà
Anh B:  Ồ, vậy thì đã lấy gì làm to
Anh A:  Vậy anh đã nhìn thấy cái gì to hơn không?
Anh B:  Có chứ. Tôi nhìn thấy một cái xanh[i] đồng to lắm
Anh A:  To bằng cái gì?
Anh B:  Nó to bằng cái đình.
Anh A:  To quá nhỉ.  Nhưng cái xanh đồng dùng để làm gì?
Anh B:  Dùng để luộc quả bí của anh ấy mà.
 

Xuyên qua câu chuyện nói khoác kể ra ở trên người kể chỉ nhằm tạo ra nụ cười thoải mái cho người nghe mà thôi chứ không có một ẩn ý nào khác.  Đó là một lối nói khoác vô hại.  Nhưng khi một người đề cập đến một chuyện nào đó vượt qua khả năng thể lực cũng như tinh thần của anh ta mà cứ khăng khăng cho rằng mình đã thực hiện đươc, đã làm được thì người đời gán cho anh ta một cụm từ không mấy nhã nhặn, đó là “tên nói khoác.” 


Bảo người nào là “tên nói khoác” thì câu nói ấy vẫn còn mang tính chất phê bình nhẹ nhàng, bởi thế cho nên người ta mới dùng cụm từ khác là“tên nói phét.” 


Để phát âm chữ “phét” người ta phải khẽ mím hai môi laị và dùng hơi đẩy từ trong miệng làm hai môi bật lên.   Nhưng nếu “phét” đi một mình lại trở thành một động từ chỉ hành động giao phối[ii] có ý nghĩa không mấy tốt đẹp giữa nam và nữ.  
Tuy nhiên ở đây ta chỉ nói đến hai chữ “nói phét” vốn để chỉ một hành động mà được biểu lộ sai sự thực bằng lời.


Cụm từ “nói phét” thường đôi khi được đứng trước bằng cụm từ “ ăn tục”.    Ăn tục nói phét vốn mang một ý nghĩa rất xấu thường dùng để chỉ những con người thô lỗ và ăn nói bố láo.  


Vào đến miền Nam nước Việt thì nói phét trở thành “nói dóc, nói dóc tổ, nói láo”.  Người miền Bắc còn có nhiều cách nói diễn tả như “nói như trạng”, “nói  như  thánh , như  tướng”. 


Thời Việt Minh Cộng Sản còn chui rúc trong hang Pắc Bó thì cán bộ Việt Minh nói phét quá, nói bố láo quá cho nên người ta mới nói là “nói như Vẹm”  Vẹm là do hai mẫu tự đầu của hai chữ Việt Minh mà ra.   Ngưòi ta viết tắt là VM.  Thời chiến tranh Đông Dương người ta đọc nhanh hai mẫu tự VM thành Vem.  Vem thêm dấu nặng thành Vẹm.   Người Quốc Gia chống cộng sản hay nói “bọn Vẹm, bọn cán bộ Vẹm, bộ đội Vẹm, tụi Vẹm, nói như Vẹm.   Bây giờ ta cũng có thể nói “Uỷ Ban Chống Nghị Quyết 36 của bọn Vẹm.”

 

Trở lại vấn đề trên thì cho dù lúc thì dùng nói khoác, nói phét, nói dóc dù phát biểu bằng động từ này hay động từ khác người ta cũng chỉ muốn chê trách một kẻ nào đó đã nói quá sự thực.


Thực ra thì nói khoác hay nói phét chỉ là nói cho vui để cho mọi người chung quanh cũng như cho chính mình , kẻ nói phét, cũng cười chơi cho vui mà thôi.


Lợi dụng cái lối giải trí bình dân không vốn không lãi ấy người Việt Minh Cộng Sản đã lồng vào trong đó một mầu sắc chính trị khiến cho những người dân có đầu óc chất phác vốn quen với lối nói phét vô hại bây giờ cứ phải nghe mãi rồi đến một lúc nào đó cái sai trái, cái tầm bậy tầm bạ ấy nó thấm dần vào óc vào tim lúc nào không hay. Thời chiến tranh Việt Pháp quệ tôi nằm trong vùng “xôi đậu” ban ngày thì Tây ban đêm thì Việt Minh.  Bọn du kích, chắc là nghe bọn chỉ huy Việt Minh của chúng, cứ tuyên truyền  rằng lính Tây mắt xanh như mắt mèo cho nên ban đêm không nhìn thấy gì và xúi rằng hễ mà thấy chúng đi ra ngoài ban đêm thì cứ việc xông tới mà chém.  Chém ai chẳng thấy thằng Tây nào chết cả mà cứ thấy đám lính Việt Minh bị ăn đạn nát thây. 

“Xúi trẻ con ăn cứt gà” kiểu này cũng thậm vô lý đến độ ngu xuẩn.  Nếu quả là vì mắt xanh như mắt mèo ban đêm không nhìn thấy gì chung quanh thì dại gì mà bọn Tây ra khỏi đồn ban đêm để cho “con cháu Bác Hồ” vác dao phay, dao rựa xông tới mà chém được chứ.  
Rồi bọn cán bộ lại nói rằng “Bác Hồ” có bốn mắt, “bác” có thể nhìn bốn phía, ai làm điều gì, ai nói cái gì “bác” đều nghe được, thấy được.  Rồi nào là “Bác” Hồ có thể tàng hình, đứng trước mặt bọn Tây mà chúng nó không thấy.


Thấy tôi và mấy đứa trẻ khác đứng say sưa nghe tên du kích Việt Minh nói về “Bác” nhà nó như vậy, bà cô của tôi mím môi, mắm lợi, véo vào tai tôi đau điếng, lôi tôi về rồi bảo:

- Nghe người ta nói bậy bạ như thế mà cũng cố mà nghe cho được.  Người nào là người bốn mắt hả.  Chó bốn mắt thì có!


Nói rồi bà lại cười. 

Dân quê Việt Nam vào thời ấy rất ít người có học cho nên có người cứ tin như thật. 

Bố tôi nói:

- Nói mỉa mai chúng nó sẽ gặp chuyện rắc rối đấy cô ạ.   Cái bọn này nó chỉ muốn người ta nghe theo chúng chứ không muốn nghe ai nghĩ ngược lại với chúng nó đâu.

Lời căn dặn của bố tôi không ngờ đã trở thành một thực tế xuyên suốt từ hồi tôi còn là một đứa trẻ lên mười đến giờ. 

Thật là:
 

Những gì cán nói phải nghe
Cho dù có chướng phè phè cũng im
Để cho “quan cán” vững tin
Rằng lời “quan” nói dân liền phải nghe.
 

Thời chiến tranh hai miền Nam Bắc, các văn nô cộng sản miền Bắc còn nói phét kinh khủng, “viết phét” trên sách trên vở của chúng mà tôi còn nhớ là trong một cuốn chuyện nào đó có một đoạn viết rằng, “một mình đồng chí Lê Thị Riêng đánh ngã cả một trung đội lính Mỹ khi chúng muốn bắt chị.” 

Một người bạn tôi nay đã ra người thiên cổ người cũng đọc được chuyện ấy nói với tôi:

- Ả Lê Thị Riêng này võ nghệ chắc còn giỏi hơn Lý Tiểu Long trong phim nữa!

Vậy là:
 
Cô cán tên LêThị Riêng
Võ nghệ khủng khiếp, thẹo thiên thuật rằng
Một mình đấm đá băng băng
Cả trung đội Mỹ té lăn té cù
Viết lách theo kiểu Chí Mu
Nói phét như rứa, thằng Cu cũng cười!
 

Rồi lại còn câu chuyện anh tổ trưởng du kích Kiều Văn Niết bị “Mỹ Ngụy” bắn gần đứt cánh tay, chỉ còn dính miếng da ‘toòng teeng’ trên vai mà vẫn tiếp tục chiến đấu quên cả chuyện đau đớn.  Khi “Mỹ Ngụy” bị đánh lui anh ta mới nghĩ đến việc dứt bỏ cánh tay ấy bằng cách kê bàn tay lên bờ đất rồi một bàn chân đạp lên bàn tay của cánh tay bị đứt gần lìa dùng hết sức giựt cho bung phần da trên đầu cánh tay khỏi thân mình nhưng không được. 


Cuối cùng phải nhờ một “đồng chí” khác dùng con dao, mà lại là dao cùn cắt miếng da cho cánh tay lìa khỏi mình. Ghê thật!.  Cái tên văn sĩ Việt Cộng nào viết phét lác quá quên phứt ngay đi một chuyện căn bản là bị như thế máu chẩy xối xả mà không được cấp cứu thì đã ngoẻo củ tỉ đi theo “Bác Cáo” nhà hắn ngay chứ  sống thế nào được mà tiếp tục chiến đấu kiên cường được chứ!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi hai miền Nam Bắc thống nhất xuyên qua vụ đánh chiếm miền Nam thành công của tập đoàn cộng sản Bắc Việt thì cái phong trào nói phét thoát ra từ cửa miệng của cán binh Việt Cộng đã được đẩy lên đến mức “quỷ khốc, thần sầu”.

Một buồi chiều nọ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 được ít hôm có một bộ đội cộng sản Bắc Việt ngồi trước cửa nhà người bạn tôi với một đám con nít ồn ào bu quanh cười nói ồn ào.  Trong nhà hai đứa chúng tôi ngồi im lặng nhìn nhau mà trong lòng thì “buồn nẫu ruột” vì không biết số phận mình cũng như gia đình sẽ ra sao trong những ngày tới ấy vậy mà cũng phải phì cười vì cái anh chàng bộ đội, “cháu ngoan của Bác Hồ” tiếp tục nói phét với lũ trẻ.  Một đứa trẻ hỏi:

- Cái nón này kêu là nón gì?
- Không phải nón mà là mũ!
- Ừ thì gọi là mũ, mà mũ gì?
- Mũ bộ đội.

Không cần đợi lũ trẻ hỏi tiếp, anh chàng bộ đội kể nào là đội mũ này thì rất an toàn cho cái đầu, nào là anh ta đã từng bị bom B52 “rơi trên đầu” nhưng nhờ đội chiếc mũ ấy mà vẫn không hề hấn gì.  Rồi anh ta còn khoe là mũ này là do “Bác Hồ” tặng cho trước khi lên đường vào Nam.  Anh ta say sưa kể về cái nón cối khiến ai cũng ngạc nhiên bởi vì rõ ràng là “nói phét” quá mức.


Hồi còn trong trại cải tạo, chúng tôi được nghe rất nhiều chuyện cán bộ nói phét.  Khi chiến tranh giữa Việt Cộng với Trung Cộng nổ ra ở mấy tỉnh biên giới cán bộ trại Nam Hà nói phét với chúng tôi rằng “nhà nước ta” được Liên Sô viện trợ cho một loại súng tối tân, bắn ra một phát thì viên đạn sẽ tách ra thành nhiều viên khác nhau mỗi viên hướng vào một mục tiêu, vì thế cho nên Trung Quốc dùng máy bay tấn công “ta” họ đã phải ngưng vì bị thiệt hại nhiều máy bay quá. 

Hỏi súng ấy là súng gì thì tay cán bộ nói tỉnh bơ như ruồi là súng ấy nhẹ lắm, một người lính có thể vác trên vai dễ dàng, và lúc bắn chỉ cần đặt xuống đất rồi lắp đạn vào rồi hướng nòng súng lên trời mà bóp cò thôi, chẳng cần nhắm vì máy điện tử có gắn sẵn trong súng nhắm dùm. 

Nói phét như thế thì quả là thần sầu quỷ khốc, tù mọc gai ốc sợ kinh, không phải sợ dùm cho mấy cái tên “giặc lái” Trung Quốc mà sợ thay cho cái nói phét được “triển khai” đến mức vô địch về nói phét trên thế giới!

Ấy đại khái chúng cứ nói phét khơi khơi như vậy.  Chả cần biết người nghe có cười vào mũi mình hay không khi nói những cái điều phản tự nhiên, phản tiến hóa, miễn là cứ nói cho lấy được.  Mỗi tên đều nói một sách, nói bậy nói bạ, nói phịa, nói thêm, và “kẻ địch” dù có ba đầu sáu tay thì “Bác và Đảng” của chúng đều có biện pháp đối phó hữu hiệu. 
Không biết ngày nay “Bác và Đảng” có còn loại súng bắn phi cơ ấy không chứ nếu còn thì có thể đem ra bắn vào “tầu lạ”[iii] ở biển đông đã xâm nhập lãnh hải và biển đảo của Việt Nam rồi. 

Xưa thì mũi súng hướng lên trời nay thì hướng ngang hay dĩ chí chúc mũi súng xuống thì cho dù Mao Trạch Đông có sống lại cũng không thể lật ngược thế cờ được, bởi vì “những đỉnh cao trí tuệ” thừa sức “phát triển” ra “lối đánh theo cách mạng Việt Nam”mà.

Trong một lần được người nhà thăm nuôi chúng tôi đem đồ ăn ra nấu nướng ăn chung với nhau mà củi để nấu thì phần còn tươi, phần ướt vì nước mưa hồi hôm cho nên cứ khói um lên.  Thấy vậy một tay cán bộ công an lại gần nói với chúng tôi:

Ở đây các anh không có điều kiện chứ còn ở Thái Bình người ta lấy cọc dài đóng sâu xuống đất, và khi rút lên thì dầu lửa phun ra.  Cứ thế họ đặt mấy hòn gạch làm “ông đầu rau” rồi bác nồi lên, và chỉ cần một mồi lửa là hơi dầu bốc cháy.  Mau lắm, chỉ chút xíu là nồi to, nồi nhỏ, nồi lớn, nồi bé, đều sôi lên sùng sục.

Biết rằng tay cán bộ này nói phét nhưng người tù cũng vẫn giả như là ngây thơ hỏi lại:

- Vậy lúc muốn tắt lửa thì làm thế nào?

- Thì lấy hòn gạch chặn cái lỗ ấy là lửa tắt mà dầu cũng ngưng phụt lên!

Một anh tù nhân khác lầm bầm nói nhỏ với tôi:

- Nói phét cái kiểu Việt Cộng chúng nó thì chó nó cũng chẳng nghe lọt lỗ tai huống hồ là người!  Mẹ kiếp!  Dầu mà nó phun lên rồi thì đút cả cái đầu chó của già Hồ mày vào cũng không ngăn được việc nó bắt lửa cháy gây đại họa cho cả xóm làng, hang ổ, thành phố, chứ đừng nói lấy cục gạch mà chận! Bố tiên sư nó, nói thế mà nghe được!”

Bọn cán binh Việt Cộng nói phét không cần biết người nghe là hạng người nào bởi vì hình như chúng quen nói phét trước đám dân ngu khu đen rồi, thành thử chúng coi tất cả là đồng hạng.  Chuyện “máy bay ta” tắt máy núp trong mây chờ B52 của Mỹ đến là bất ngờ “xồ” ra bắn hạ nó.   Ngoạn mục hơn nữa là “giặc lái “ nhẩy dù ra ngoài thì “chiến sĩ ta” cũng “đếch cần” đeo dù mà phóng ra khỏi máy bay của mình để bắt sống cho được tên “giặc lái” ngay tại trên không chứ đừng nói là xuống đất nữa.  Ghê quá!

Sau này khi đã được ra tù gặp nhau ôn lại “chuyện xưa tích cũ” một người bạn cười bảo tôi:

Chúng nó nói phét như thế mà nói được, không cần biết về định luật về sức hút của trái đất.  Mẹ kiếp, nhẩy ra khỏi máy bay kiểu ấy thì tới mặt đất thằng Việt Cộng con ấy dẹp lép trở thành cái bánh tráng thịt bầy nhầy, chết không kịp ngáp, lấy quái gì mà bắt sống tên “giặc lái” chứ.  

Muốn múa gậy vườn hoang, muốn nói phét thì “Bác và Đảng” phải để cho dân ngu đi nên mấy anh cạo mủ thiến heo mới có dịp trở thành “đỉnh cao trí tuệ chứ”!  Chính ngay Mao Trạch Đông chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng muốn dân Trung Hoa ngu để dễ trị, để dễ nói phét.  Ta hãy đọc một đoạn sau đây do tác giả Jung Chang viết trong cuốn Mao, The Unknown Story để biết cái thâm ý của các lãnh tụ cộng sản mà Mao Trạch Đông là một. 

“He opened with novels, saying sarcastically to a Party audience in September 1962: “Aren’t there a lot of novels and publications at the moment? Using novels to carry out anti-Party activities is a big invention.”  Mao later laid into all books: “The more books you read, the more stupid you become.” “You can read a little” he would say, “but reading too much ruins you.”  This was unashamedly cynical as he himself was well read, and loved reading.  His beds were tailor-made to be extra large, with enough space for loads of books to be piled on one side (and sloping, so that the books would not topple over onto him). And his favorite hobby was reading in bed.  But he wanted the Chinese people to be ignorant.  He told his inner circle that “We need the policy of “keep[iv] people stupid”.

(Jung Chang & Jon Halliday, Mao, The Unknown story, First Anchor Books Edition, 2006, page 476).


Xin tạm dịch như sau:
 

“Ông ta mở đầu cuộc nói chuyện với các khán thính giả là các đảng viên vào tháng 9 năm 1962 bằng cách nói một cách chua cay như sau: “Chẳng phải hiện thời có nhiều tiểu thuyết và các ấn phẩm khác sao?  Dùng tiểu thuyết để thi hành những hoạt động chống đảng là một phát minh mới.  Sau đó ông ta công kích kịch liệt tất cả các sách vở và ấn phẩm như sau: “Càng đọc nhiều sách, người ta càng ngu.”  Ông ta thường nói: “Đọc in ít thôi, đọc nhiều sẽ làm hại mình.”  Câu nói này là một sự ích kỷ đáng xấu hổ bởi vì chính ông ta là người đọc nhiều và thích đọc sách.  Giường ngủ được đóng riêng cho ông ta là loại giường ngoại khổ có đủ chỗ rộng để có thể chất được nhiều sách vào một bên (và nghiêng nghiêng khiến sách không đổ lên người ông) và sở thích của ông ta là nằm mà đọc sách.  Tuy nhiên ông ta muốn người dân Trung Hoa phải ngu dốt.   Ông ta nói với giới thân cận như sau: “Chúng ta cần có chính sách ngu dân.”
 

Ngu dốt thì bất kể lời nói nào của lãnh đạo cũng phải tin tỉ dụ như Lê Duẫn trong bài diễn văn đọc tại Thái Bình năm 1976 trong đó y tuyên bố phét lác là nội trong thời gian ngắn người Việt Nam sẽ có đủ nước chấm (tức nước mắm) trong vòng năm năm phát triển chăn nuôi, mỗi đầu người sẽ ăn được 18 quả trứng trong một năm, mười năm sau mỗi nhà dân đều có một cái Ti Vi và một cái tủ lạnh, và trong vòng 15 năm ta tiến bộ ngang nước Pháp và rồi vượt qua nước Pháp. 
 

Tôi có làm bài thơ về việc này như sau
 

Cha đời cái lũ “cực” ngu
Cứ làm cái chuyện ruồi bu nực cười
Mang quân đi “giải phóng” người
“Văn minh ruộng rẫy” cao lời dậy khôn
Cộng vào đến đất Sài Côn[v]
Cái gì cũng bảo: “Vẫn còn thua xa”
Miền Bắc tủ lạnh nhà nhà
Ti vi nhiều quá chạy ra đầy đường”
Cộng vào đến phố, đến phường
Nhi nhô khoác lác khó thương thế nào
Chúng rằng: “Mỹ cút, Nguỵ nhào
Bắc Nam xum họp, vui nào vui hơn”
Cái tên Lê Duẩn trán trơn
Năm năm dân sẽ ăn cơm trứng gà
Một năm mười tám quả mà
Ta nuôi gà đẻ thì tha hồ dùng
Saigòn dân chửi: “Đồ khùng”
Một năm có vậy sao dùng đủ, cha?
Duẩn Lê tiếp tục ba hoa
“Mười lăm năm vượt Lãng Xa[vi] chặng dài
Ti vi, tủ lạnh dân xài
Nhà nhà đều có, chẳng ai thiếu mà”
Năm năm phút chốc đi qua
Cơm còn chẳng có, trứng gà mà chi
Mười lăm năm đã qua đi
Ti vi tủ lạnh, vậy thì ở đâu?
Dân đen tức chửi lầu bầu
“Phen ni phải vặt trụi râu Duẩn già
Bao nhiêu năm đã trôi qua
Nhìn quanh vẫn những mặt già lưu manh.
 

Tuy nhiên đến năm thứ mười thấy cái “bọn chạy theo đế quốc kiếm canh thừa bơ cặn nhưng ăn không hết, uống không hết đành phải gửi cái của thừa lần thứ hai ấy về nuôi thân nhân, bọn Hồ Cộng mới té ngửa ra rằng ngay cái đồ thừa ăn không hết lần thứ hai ấy cũng là cái phao đã tích cực vực dậy cái căn bệnh nghèo nàn trầm kha của chế độ xã nghĩa mạt rệp của chúng... thế là chúng đổi ra cái giọng bợ đỡ nâng từ “cái nhọt ung thư cần phải cắt bỏ cho thân thể nó khỏe” như lời tên cố thủ tướng kinh niên Phạm Văn Đồng đã nói đổi ra danh xưng đẹp đẽ hơn là “Việt Kiều yêu nước, khúc ruột xa ngàn dặm”.  
 

Tuy nhiên câu tuyên bố phét lác của Lê Duẫn còn chưa khiếp đảm bằng câu nói của một cán bộ Việt Cộng nói với ông Nguyễn Hiến Lê được ông ta thuật lại bằng vài giòng ngắn như sau:
 

“Dân tộc mình thắng được Mĩ, hùng cường thứ nhì Đông Á, chỉ 5 năm nữa thì kinh tế mình sẽ thịnh, hai chục năm nữa sẽ đuổi kịp Nhật rồi vượt họ.”
 
(Nguyễn Hiến Lê, Hồi Ký, tập 3, Văn Nghệ Xuất bản, 1988, trang 48)
 

Nhưng nói phét theo kiểu Thiếu Tá Huyến của Cộng Sản Bắc Việt trong Ban Liên Hợp Quân sự Bốn Bên ở Tân Sơn Nhất với một đại úy tương nhiệm người Mỹ là Stuart Herrington trên cùng chuyến xe buýt chạy quanh thủ đô Hà Nội của Bắc Việt không còn là “thần sầu, quỷ khốc” mà phải đổi là “Thiên Sầu, Địa Khốc” mới đúng, bởi vì những ngôi nhà ở Hà Nội cũ kỹ rêu phong xây đã trên hai phần ba thế kỷ hay hơn nữa mà y bảo là mới xây dựng lại thì quả là chuyện chỉ có miệng lưỡi của bọn Việt Cộng bần cố nông, cu li xe “dốt nát theo ý nguyện của Bác Mao, Bác Hồ” nhà chúng nó mới dám mở mồm nói ra được. 

Đại Úy Stuart Herrington viết trong cuốn sách có nhan đề là Peace With Honor như sau;
 
“As callous as it may sound, the 1972 Christmas bombings were probably a testament to the progress in the technology of aerial bombardment since World War II.  As our bus wound its way through the street of downtown Hanoi, it seemed almost inconceivable that we could have dropped so much ordnance in and around that city and still left it virtually intact.”
 
“When I expressed my astonishment at the absence of bomb damage, Major Huyen insisted stubbornly that “the people have completely rebuilt the city.”  If he was right, then “the people” must have mastered the techniques of aging new buildings sixty or seventy years.  Actually it was quite easy to identify those structures near the bridge and elsewhere that had recently been rebuilt.”
 
(Stuart Herrington, Peace With Honor, Presidio, 1983, page 83-84.)
 
       
Nói nghe có vẻ tàn nhẫn, nhưng những trận ném bom mùa Giáng Sinh năm 1972 chắc chắn là một điều khẳng định về sự tiến bộ của kỹ thuật ném bom kể từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay.  Trong khi chiếc xe buýt của chúng tôi chạy vòng vòng qua các đường phố ở thủ đô Hà Nội thì điều hình như không thể nào tin được là chúng ta đã ném vô số bom tiêu diệt hệ thống phòng không trong thành phố và chung quanh Hà Nội mà thành phố hầu như hoàn toàn còn nguyên vẹn.”

 
Khi tôi tỏ vẻ kinh ngạc về chuyện không có thiệt hại về nhà cửa do bom gây ra thì thiếu tá Huyến cứ khăng khăng nói với tôi rằng “nhân dân đã xây dựng lại toàn bộ thành phố ấy.  Nếu lời của ông ta là đúng thì “nhân dân chắc chắn đã nắm vững được cái kỹ thuật làm cho các nhà cửa mới xây trở thành cũ đi như những nhà đã xây cách đây sáu bẩy chục năm.  Thực sự thì chuyện nhận ra những cấu trúc mới được xây dựng gần cầu (Long Biên) và bất cứ nơi nào khác là một chuyện quá dễ.”
 

Câu chuyện nói phét của cộng sản Việt Nam đến đây xin tạm ngưng lại.   
 
 
Vân Hải Nguyễn Xuân Hùng
 
- - - - -
[i] Một loại nồi nấu giống như cái soong nhôm bây giờ nhưng làm bằng đồng, có hai quai.
[ii] Thí dụ:  Con bé đó bị thằng ấy nó ‘phét’ cha nó rồi! (tức là bị cưỡng dâm)
[iii] Tầu Trung Cộng nhưng bọn cộng Sản Việt Nam gọi tránh đi là “tầu lạ”.  Bên Mỹ người ta nói đùa là “sáng nay bọn mình ra “nhà hàng lạ” ăn tỉm sắm nghe!”
[iv] Đúng ra thì phải viết “We need the policy of keeping people to be stupid” tuy nhiên kẻ viết bài này xin chép y nguyên văn trong cuốn sách của bà Jung Chang.
[v] Tức là Saigon
[vi] Tức là Phú Lãng Xa, âm của người Tầu đọc chữ France./.