Từ Nhã Ca Mới
đến Nhã Ca bây giờ
Một đêm Sài Gòn gầm gừ qua cơn mưa trong một quán cà phê nổi dóa những đám mây đen khịt đầy trời.
Tôi ngồi hiền lành bên ly cà phê nhỏ giọt buồn bã. Thằng bạn ngồi kế rít điếu thuốc liên hồi. Hai chúng tôi đều là con nhà lính, cuối tuần vù về thành phố thay bộ đồ dân sự, rủ nhau vào quán ngắm cô gái thâu ngân có đôi mắt nai dại khờ, có mái tóc bom-bê tinh quái để lộ cần cổ trắng ngấn. Lính nhìn, lính say hương tình chết bỏ. Cả hai chúng tôi lặng lờ ngắm nhìn một hình tượng lộn đầu như một ước mơ chỉ còn đôi mắt nhìn mình một cách hờ hững chia bờ ranh giới của si và dại.
Cô gái loay hoay, cúi lên, cúi xuống bên giàn máy cũ mèm. Bỗng tôi nghe giọng Khánh Ly nhừa nhựa qua cuốn cassette nhão nhẹt đưa thoi với nhiều vòng tua bài hát của Trịnh Công Sơn như tiên tri số phận của miền Nam sẽ “đón giặc miền Bắc vô đây bàn tay vấy máu anh em”:
Đại bác ru đêm dội về thành phố
Người phu quét đường dừng chổi đúng nghe...
Quả như sau đó là cái Tết Mậu Thân máu đổ, thịt rơi... đường đường, phố phố các đô thị miền Nam. Hoa máu lợm tanh khắp làng quê. Mồ chôn tập thể thôi thì đủ cỡ lớn nhỏ. Lớn cỡ trên hai ngàn người ở Bãi Dâu (Huế). Nhỏ cũng phải dăm căn hộ chết chùm cùng chung một hố. Giặc từ Bắc vô Nam rồi đấy!
Lôi trong trí nhớ nhỏ thoi thóp qua lằn đạn giặc, tôi bầm dập những bài hát phản chiến của Trịnh Công
Sơn. Thằng bạn chửi thề luôn miệng:
- Mẹ! mày đòi về thành phố vào quán cà phê nghe nhạc Trịnh Công Sơn, giờ cám cảnh chưa con?
Thời gian sau - tùy theo thủ thuật của anh bạn đồng minh gian manh - Miền Nam hồi sinh trong màn đêm điêu đứng của cảnh hợp tan. Kẻ sống sót, người chết lấp vội trong bối cảnh một lịch sử đã dâng trọn cả non sông gấm vóc cho hai chủ nghĩa phi-dân-tộc quyết định màn tùng xẻo sống còn...
Tôi đâm đố kỵ lịch sử. Đố kỵ cả cấp lãnh đạo đất nước chỉ thích kẹp cổ người dân lặc lè, hoặc làm ngựa để các đấng này phi nhong nhong...
Tôi vùi đầu trong những trang tiểu thuyết để tạo cho mình một ảo tưởng thoát ra kiếp bềnh bồng của một đời mây trôi nổi trên bầu trời quê hương mất đi ánh nắng vàng trong những buổi chiều âm vang tiếng nghé ọ.
Tôi lêu lổng với thứ âm nhạc vàng khè, bạc nhược ở những quán cà phê mịt mờ khói thuốc. Tôi đọc ngấu nghiến Địa Ngục có thật của Dương Nghiễm Mậu. Tôi sụt sùi theo Giải Khăn Sô Cho Huế của Nhã Ca.
À, người con gái tên Vân (Trần thị Thu Vân) tôi đã từng làm quen qua bút hiệu Nhã Ca với những bài thơ xuất hiện khai phá trên tạp chí Hiện Đại do Nguyên Sa chủ trương từ năm 1960. Những bài thơ dưới cái tên Nhã Ca đã cuốn hút hồn tôi trôi nổi như mảng bè lập lờ giữa con sông lạnh. Giữa vầng trăng thao thức tàn canh. Giữa cái sôi nổi, đam mê muốn bật khỏi đôi nịt vú mềm mại, mảnh sì-líp hồng đuôi nheo chảy dài nhung nhớ. Tôi cắm đầu chui rúc vào đó và quên đời...
Những vần thơ nhãn hiệu Nhã Ca rất bạo so với thời điểm con người còn đóng khung trong cái vỏ đạo đức giả tạo. Chùa chiền còn âm âm, u u tiếng mõ rời rạc trong những buổi chiều hoang vắng. Cửa giáo đường tha thướt những tà áo trắng trinh nguyên chỉ để làm kiểng cho những trái tim sôi nổi chưa thoát khỏi hệ lụy của những cuộc tình trăn trối.
Thời điểm đó thơ Nhã Ca đã:
Tôi bỏ nhà đi năm mười chín tuổi
Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông
Cuối cơn điên, dầu giấc ngủ đau buồn
Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy....
Thơ đã trả lời thay cho cái liều lĩnh ngàn vàng của người con ái nhìn 'cửa thiêng đàng dựng một quả chuông” này:
Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời
Đổi họ thay tên viết văn làm báo
Cơm áo dạy mồm ăn lơ, nói láo
Cửa từ bi mất dấu đứa con hư
Nàng thơ của chúng ta cũng cúi đầu tự thú vì cái hơi hướm trần tục bám quanh thân xác mình:
Hai mươi tuổi thôi hết thời con gái
Cành xanh xao với trái mùa thu
Tuổi trẻ bị bỏ quên không bao giờ ngó lại
Tôi với ngày qua biển xám mây mù
Nàng thơ tự thú chưa đủ. Em đâu có muốn vậy? Tại anh mà!
Tại anh sao? Chẳng tại anh còn ai trồng khoai đất này? Khoai lang hay khoai củ ? Khoai gì tự anh biết lấy. Em bắt đền cho xem:
Người cũng vậy lòng muôn nghìn dối trá
Vờ thương yêu, vờ đắm đuối ân tình
Tôi chót dại tin lời trao tất cả
Đâu biết người mang nửa dạ yêu tinh
Bởi người đàn bà là một sinh vật từng làm cho người đàn ông xốn vó, lộn đầu, lộn đuôi, mò mẫm, hùng hục... chẳng nhọc lòng...
Sao lại đi đứng khum khum vậy? Nhã Ca đã nói hộ dùm ta:
Rên la trong hân hoan
Hoang chí trong tàn phá
Chưa đủ sao? nữa này:
Cám ơn Thượng Đế đã cho tôi đôi vú
Cho tôi da mịn tóc dài
Cho tôi rực rỡ như mặt trời
Để tôi làm ra ái tình và rượu ngọt
Tràn trên trái đất....
Thơ Nhã Ca trụ một cột trên “tòa nhà” Hiện Đại rung rinh từng mảng tình cảm vũ bão kỳ lạ từ chủ nhân Nguyên Sa ướt át, vuốt ve trong ngôn từ thi ca, đến Nhã Ca lạ lẫm cầm bút viết báo, làm thơ, hút thuốc lá để lao đầu vào tình trường, cho dù tả tơi hoa lá, nàng thơ của chúng ta đã kết thành trăm năm với người bạn đời khác nàng, rất nhút nhát, dại khờ, thật đáng yêu:
Biết yêu người thuở mười lăm
Trong vườn ngây dại, ta nằm xót xa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la đà tới lui
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn lẫn đất trời với em
(Buổi Hẹn Đầu của Trần Dạ Từ)
Nhã Ca là một ngòi bút tủa hai nhánh: Nhánh của những vần thơ hừng hực bốc lửa. Lửa diệm sơn của đôi-vú-đồi. Của những hồi chuông “lay tôi thức dậy” mon men đến chốn địa đàng. Rậm rạp của những khu rừng mờ mịt thức mây. Đốt cháy từng nụ hôn bằng tuổi dậy thì. Liều lĩnh. Đam mê. Nhánh báo động bằng giọng văn thức tỉnh lương tâm con người đang chơi trò xây mồ tử sĩ, chít khăn tang quả phụ của hai chế độ đều gầm gừ vì miếng đỉnh chung. Vì thứ quyền lực (dĩ nhiên cả bổng lộc) xây bằng núi xương, biển máu của đồng loại. Chế độ phương Bắc xây mồ tử sĩ bằng những con đường xẻ dọc Trường sơn. Chế độ miền Nam nhảy đầm, ăn chơi phù phiếm. Lính ngoài sa trường chiến đấu trong cảnh khốn cùng của vợ con. Nhã Ca là một tâm hồn thánh thiện, chan chứa tình người. Bà đã viết Giải Khăn Sô Cho Huế sau cảnh chôn người tập thể, rùng rợn hơn thời Trung Cổ của Bắc Quân qua cái Tết Mậu Thân đẫm máu. Bà đã nghe tiếng đại bác xa xa vọng về thành phố. Từ đó là sự rình mò, đòi nuốt chửng của loài quỷ đỏ nhe hàm răng chó sói tru về phương Nam. Phải chăng bà đã linh cảm số phận hẩm hiu của đồng loại đã được đặt sẵn trên các bàn hội nghị khi chưa được ngã giá hẳn hoi?
Thơ Nhã Ca, theo nhận định của thi sĩ Nguyên Sa (người hiểu bà năm với năm là mười. Có khi còn hơn thế nữa...) khi viết tựa cho tập Nhã Ca Mới được ấn hành tại Sài Gòn năm 1964, thì:
“Thực chất thi ca của Nhã Ca chính là sự xác nhận một chủ thể tự do, chọn lựa một cá tính đàn bà vượt trên thụ động tính, thiết lập với đối phương một tương quan đi lại, chối từ tương quan chịu đựng, vị trí đồ vật với những huyền thoại đúc kết bởi phong tục, tập quán, luân lý cổ truyền, thái độ của đàn ông, thành một vòng đai trùng trùng vây hãm...”
Cùng thời bà, nhhững cây viết nữ như: Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ... chỉ thích cảnh ái-ân-tìm-của-lạ trong “vòng tay học trò”, của thứ “Khung Rêu” hắc ám bao quanh cuộc đời, của thứ “Tôi nhìn Tôi trên vách” đến chóng mặt...
Nhã Ca đã nhìn cuộc chiến như thứ “tai trời, ách nước” lương dân hai miền đều sặc sụa chìm vào hố thẳm. Cái độc đáo, mâu thuẫn trong thơ văn bà là ở chỗ đó.
Tuy ngậm ngùi lẫn sảng khoái qua thơ văn của Nhã Ca, bà với tôi như hai đốm lân tinh đối nghịch: Bà chói sáng ở lầu hoa. Tôi lập lòe ở góc hụi bờ.
Nhờ cơn đổi đời héo dạ, lòi dom 30/4/1975, tôi gặp bà làm mặt “nghiêm và buồn” ở quán cà phê (số 100 đường Nguyễn Du, Quận I) khi nghe tôi rên rỉ giọng vịt đực, giật đàn phừng phừng làm cần câu cơm qua ngày. Dần dần chúng tôi thân nhau mới lạ. Thời đó tôi không hề bàn chuyện thơ văn với bà. Tôi bóp bụng, chỉ thích nhìn trời xanh, mây trắng, mong một ngày có cơm ăn đủ no là đã thấy ngày mai trước mặt.
Chín năm trước (1995) tôi gặp lại bà và phu quân là nhà thơ Trần Dạ Từ cùng đứng mũi chịu sào tờ Viễn Đông nhật báo nghe đâu đã đủ móng vuốt để nghênh đón tờ Người Việt đang vi vút những ám ảnh chữ nghĩa bằng thứ chiêu thức văn chương vô hình. Rồi mọi chuyện đều vui vẻ cả làng.
Tôi mừng lắm thay! Tôi lại mừng lần nữa khi nghe tin bà cho trình làng Nhã Ca Thơ lần đầu tiên tại Hoa Kỳ do Vietbook ấn hành vào năm 1999.
Đọc Nhã Ca Thơ, tôi không còn những xúc cảm thuở ban đầu khi lãng đãng để rung theo những vần thơ ở Nhã Ca Mới vào năm 1964. Có lẽ, tại tôi cũng làm thơ lúc này. Thơ tôi như đôi mắt mọc mụt lẹo, nhướng về dĩ vãng, đâm ngang hiện tại... chỉ thấy những hạt mưa huyền sử giăng giăng đầy trời. Rồi tan thành nước. Thứ nước sình mương lạch quanh co tìm về cội nguồn. Chỉ thấy bầu trời đen khịt những mây và mây. Trong Nhã Ca Mới, duy nhất bài thơ bà viết đưa tiễn nhà thơ Nguyên Sa làm tôi đọc co rúm châu thân, hụt hẫng từng hơi thở:
Nhớ anh xưa mũ đội đầu
Mũ Tây, mũ Mỹ, mũ Tầu, mũ Ta
Mũ Tây độc, mũ Đông tà
Mũ ông Thầy, mũ Chú Ba cười cười
Một mình một ngựa. Ôi thôi
Bao nhiêu là mũ rụng rời. Anh đi
Mũ nan mũ dạ mũ ni
Hôm nay anh đội mũ gì quá quan
Chị Nhã Ca! Chị có đồng ý với tôi, chỉ một điều này thôi nhé:
-Khi buồn đọc thơ mình rặn, ôi sướng dường bao! Nếu thơ bỏ ta ta đi nữa, thà chết phứt cho rồi! Phải vậy không chị?
Phạm Quang Ngọc