Oan Hồn Ở Bảo Tháp Chùa Vĩnh Nghiêm
Bài và Ảnh: Phụng Linh
Bảo tháp chùa Vĩnh Nghiêm, đường Công Lý cũ, quận Ba mở cửa đón khách từ 9 giờ sáng cho đến 6 giờ chiều. Đã không đủ đất cho người sống, người chết cũng phải chen nhau từng “mi li
mét” của ngôi bảo tháp 4 tầng. Đa số khách đến viếng là thân nhân của hàng ngàn người quá cố nay chỉ còn là tro bụi chứa đựng trong các hũ sành.
Người giữ ngôi bảo tháp, ông Trần Q.H. cho biết, đang trông coi khoảng hai mươi mấy ngàn hũ cốt. Ông nói: “Diện tích ở đây ngày càng hiếm vì người vô thì nhiều, người ra thì ít”.
Ông không xác nhận nhưng chúng tôi biết, tin nói các hũ cốt không người viếng thăm một thời gian dài sẽ bị đưa đến một nơi khác “biệt vô âm tín” không phải là tin đồn vô căn cứ.
Những câu chuyện oan khuất
Đầu giờ chiều một ngày giữa tháng Tư, năm 2010, trong vai người có bà ngoại đang nằm tại ngôi bảo tháp này, chúng tôi đến tìm gặp ông Trần Q. H. Ông niềm nở mở cửa mời chúng tôi vào ngôi bảo tháp hình trôn ốc, chính giữa là bàn thờ, chung quanh là mấy vòng kệ chứa đầy hũ cốt.
Bàn thờ nhang đèn sáng choang, khói hương nghi ngút. Một chiếc máy nhỏ liên tục phát lời tụng niệm “Nam mô a di đà Phật” vang vang cùng chuông mỏ. Chúng tôi tò mò đọc những hàng chữ khắc trên những bảng nhựa tên tuổi phía dưới di ảnh của các hũ sành chen chúc, la liệt. Có người qua đời khá lâu, từ bốn mươi năm về trước, nhưng cũng có người hóa thân thành tro bụi chỉ mới vài tuần lễ.
Có khoảng năm hũ cốt được đặt trang trọng trên bàn thờ. Chúng tôi đoán đó là những người “đặc biệt” được người giữ tháp để nằm ở vị trí “ngon lành” nhất. Tiếp đến là hũ cốt chiếm phần “mặt tiền”, khác hẳn những hũ cốt nằm tận trong sâu của ngăn kệ, không ai nhìn thấy mặt, thấy tên.
Ông H. cho biết ngày nào cũng thắp nhang hai lần vào buổi sáng và buổi chiều. Ông cầm bó nhang nghi ngút khói, đi một vòng để cắm đều mọi nơi. Tôi bỗng nói: “Anh tin có một thế giới tâm linh không?”
Ông H. tỏ vẻ bối rối trước câu hỏi bất ngờ mà có lẽ trước đó chưa ai đặt ra cho ông. Ông ra chiều suy nghĩ đăm chiêu rồi trả lời: “Có chứ. Tôi tin”.
Âm khí trong ngôi bảo tháp hình như thêm nặng nề khi câu chuyện bắt đầu. Giọng của ông trầm đều và nhỏ lại hẳn. Tôi phải cố gắng lắm mới nghe được từng tiếng nói của ông.
Ông kể chậm rãi nhưng liền lạc, như có một sức cuốn hút vô hình:
Một hôm gần đây, tôi thắp nhang xong thì cũng vào giữa trưa. Chung quanh thật vắng vẻ, yên tĩnh. Tôi ngồi trên ghế, nhắm nghiền mắt lại… Bỗng dưng, tôi cảm thấy như có bóng người lảng vảng quanh mình, đi lại, đi qua… Tôi mở mắt ra và nghĩ có khách vào bảo tháp, đi tới đi lui nhìn kiếm hũ cốt người thân của họ vì không biết chỗ. Như thường lệ, tôi đứng dậy đi vòng phía bên kia định chận đầu để hỏi. Tôi đi một vòng tròn, vòng qua, vòng lại, vòng trong vòng ngoài không thấy ai hết. Tôi thừ người ra, định tâm một hồi và chợt hiểu, người ở cõi âm lảng vảng đâu đây cho tôi thấy chứ không phải là người ta.
Một đêm khác, trong giấc mộng, tôi thấy mình bưng bình bông từ trên lầu một đi xuống cầu thang vô tầng trệt để bỏ bông cũ thay bông mới, chợt thấy một cô gái mặc áo dài trắng từ cầu thang tầng dưới đi lên. Cô thấy tôi liền nhoẽn miệng cười chào. Thay bông xong, tôi bước lên cầu thang lại đụng mặt cô lần nữa. Và tới ba bốn lần như vậy, hễ tôi đi lên thì gặp cô đi xuống, tôi đi xuống thì chạm mặt cô đi lên. Tôi thấy lạ liền hỏi:
- Chào cô, cô là ai sao tôi không biết?
Trong giấc mộng, tôi vẫn nghe tiếng cô trả lời rõ mồn một:
- Dạ, anh không biết em, nhưng em biết anh.
- Ủa, cô là ai sao biết tôi?
- Mai mốt, chừng ba bữa nữa, anh sẽ thấy em, anh biết.
Tỉnh giấc mộng, tôi vẫn chưa hết bàng hoàng. Vài hôm sau, có một người đàn ông đến bảo tháp trong giờ làm việc hỏi thăm hũ cốt mang tên P. Thị D. Tôi lật sổ ra thấy tên đó, dẫn người đàn ông đến, ôm bình cốt đặt lên bàn thờ để ông thắp hương khấn vái. Khi nhìn di ảnh gắn trên hũ cốt, tôi nhận ra ngay cô gái đã gặp trong giấc mơ, cũng mặc chiếc áo trắng, gương mặt cười cười y hệt trong hình.
Tôi kể lại giấc mơ cho người đàn ông này nghe. Ông nói: “Tội nghiệp, chúng tôi bận bịu làm ăn, lâu quá không đến thăm nên cô hiện ra trong giấc mơ cho ông thấy”. Thấy cô hiển linh, tôi thường thắp nhang khấn vái cô phò hộ cho chúng tôi.
Khoảng 8 năm trước, tức vào năm 2001 – 2002, có thêm câu chuyện ly kỳ: một ông cụ đã quá vãng nhập hồn vào xác đứa cháu ngoại của ông nằng nặc đòi rời bảo tháp chùa Vĩnh Nghiêm để sang Mỹ.
Tính đến ngày xảy ra câu chuyện, ông cụ ấy mất mới chừng 3 – 4 tháng. Tôi còn nhớ khoảng 3 giờ chiều, một cô gái - cháu ngoại của ông ở Mỹ về thăm nhà, được gia đình dẫn đến bảo tháp viếng thăm hài cốt của ông trong lúc tôi đang làm việc. Người nhà của ông cụ kể cho tôi biết, trước đây cô cháu ngoại ở với ông, được ông săn sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cô bé theo mẹ sang Mỹ đoàn tụ gia đình. Ông ngoại ở lại Sài Gòn, sau đó qua đời vì bạo bệnh, cô cháu ngoại không về được, mãi cho tới ngày cô về thăm.
Trong buổi tiếp xúc với chúng tôi khoảng 3 giờ chiều, cô thấy hũ cốt của ông cụ đặt ở cao quá nên ngỏ lời xin thầy trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm dời xuống chỗ thấp. Hòa thượng trụ trì đồng ý và cô Việt kiều yên tâm ra về. Bỗng nhiên đến nửa đêm, khoảng 1 giờ sáng hôm đó, người nhà của cô gọi điện thoại đến chùa gặp hòa thượng cho biết cô cháu ngoại không chịu ngủ mà cứ nói lảm nhảm suốt đêm: “Cho tôi đi theo cháu tôi. Cho tôi đi theo cháu của tôi”.
Người nhà của cô còn hỏi thầy: “Tình trạng vậy giờ phải làm sao?”
Thầy nói: “Để sáng mai tính, chứ bây giờ khuya rồi không làm gì được. Hồn của ông cụ nhập vào cô cháu ngoại rồi”.
Sáng hôm sau, 3 – 4 người trong gia đình đưa cô bé đến. Cô bị hồn ông cụ nhập vào cứ nói lảm nhảm: “Tôi đã dưỡng nuôi cháu, xin cho tôi theo cháu tôi”.
Chính tại ngôi bảo tháp này, câu chuyện giữa tôi và cô bé bị nhập hồn diễn ra kỳ dị.
Tôi nói với hồn ma của ông đã nhập vào cháu ngoại:
- Ông muốn đi thì cho ông đi. Tôi sẽ làm thủ tục hồ sơ để cô bé bưng hũ cốt qua Mỹ nhé.
Tôi làm hồ sơ, bảo cô gái ký tên. Rồi tôi hỏi họ tên, địa chỉ và số điện thoại bên Mỹ. Cô nói liền họ tên của ông ngoại. Nhưng địa chỉ và số điện thoại của cô ở Mỹ thì cô không trả lời được. Tôi hỏi đi hỏi lại, cô vẫn lắc đầu nói không biết. Tôi thừa biết trong giấy tờ tùy thân của cô có sẵn địa chỉ và số điện thoại của cô. Nhưng cái hồn nhập xác của cô là ông già chưa từng đến Mỹ nên không thể nào biết được.
Tôi bảo ông: “Ông nói địa chỉ để tôi ghi vào hồ sơ rồi cho ông đi liền”. Mặt của cô cháu ngoại ngớ ra, rồi tiếp tục trả lời: “Không biết”.
- Ông biết không? Nếu không biết thì không cho đi.
- Không biết. Xin cho tôi theo cháu tôi.
Tuy nói vậy nhưng tôi cũng làm thủ tục cho cô bé mang cái hũ cốt của ông cụ ra đi.
Đoàn tăng sĩ Đài Loan làm lễ rước vong linh bổn sư
Ông Trần Q. H. đã giữ bảo tháp ở chùa Vĩnh Nghiêm hai mươi năm nay còn kể một câu chuyện ly kỳ khác như sau:
“Vào năm 1998, khoảng 9 giờ sáng, tôi bỗng thấy hai chiếc xe ca loại lớn chở trên 100 người vượt cầu Công Lý, dừng lại dưới chân cầu, cách cổng chùa 50 thước. Từ trên xe, cả đoàn tăng sĩ Đài Loan bước xuống, áo cà sa chỉnh tề.
Họ xếp thành hàng dài, vừa đi chậm rãi vừa tụng kinh, cứ đi ba bước quỳ xuống lạy một lạy "tam bộ nhất bái".
Đoàn người mặc áo cà sa vàng thắm dẫn dài đến trước cổng chùa, vào trong sân. Không ai hiểu việc gì cho đến khi anh hướng dẫn viên du lịch cùng với một người tự xưng là thân nhân của vị bổn sư Đài Loan đã viên tịch tại đảo quốc này bốn, năm mươi năm trước trình bày rằng đoàn tu sĩ Đài Loan đến viếng bổn sư của họ đang… tu tại chùa Vĩnh Nghiêm.
Họ kể cho biết, vị bổn sư viên tịch 40 – 50 năm nay, cứ đến ngày giỗ của bổn sư thì các đệ tử kéo về dự lễ rất đông tại Đài Loan. Thế nhưng, vào năm 1998, khoảng 5 đệ tử của ông ở các chùa khác nhau tại Đài Loan cùng nằm chiêm bao cùng một giờ thấy sư phụ nhắn nhủ rằng ông "đang tu tại chùa Vĩnh Nghiêm, Việt Nam".
Liên lạc với nhau, họ giật mình kể lại điềm vị bổn sư về báo mộng y hệt nhau cho nhiều người. Hôm sau trong ngày giỗ cụ, các tăng sĩ bàn kế hỏi địa chỉ chùa Vĩnh Nghiêm và xin tìm đến để rước linh vị của ông. Thầy trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm là thầy Kiểm không hề biết tên tuổi bổn sư của họ nhưng vẫn đồng ý để đoàn tăng sĩ Đài Loan làm lễ rước vong linh. Mỗi sáng họ đến chùa tụng kinh, chiều nghỉ cho đến sáng hôm sau tụng tiếp, suốt một tuần lễ để gọi là rước vong linh của bổn sư họ về Đài Loan. Lời kinh kệ và chuông mỏ rền vang cả khu vực quanh chùa. Câu chuyện chấm dứt ngay sau khi đoàn tăng sĩ an lòng rời Việt Nam. Từ đó đến nay, chúng tôi không nghe ai nhắc đến vong linh của vị bổn sư người Đài Loan đó nữa”.
Chuyện bóng trắng cản đường
Từ những câu chuyện kỳ lạ xảy ra tại ngôi bảo tháp, ông Trần Q. H. còn thân tình kể lại chuyện có thật xảy ra với chính ông. Ông kể:
“Năm 1969, tôi từ nhà bà nội của tôi ở Bạc Liêu về Long An vào lúc nửa đêm một mình trên chiếc xe gắn máy. Khi chỉ còn cách nhà khoảng 5 cây số, trước mặt tôi là một cây cầu, đoạn đường đang đổ đá lởm chởm. Trời mưa lắc rắc như phủ một làn sương mờ… Tôi đang chạy xe, bỗng thấy một bóng trắng xuất hiện giữa đường trước mặt. Tôi chạy một hồi nữa, lại vẫn cái bóng treo đàng trước như đùa giỡn. Tôi nghĩ chắc mình bị hoa mắt vì hồi ban chiều cũng đã “cụng” vài ly.
Bóng trắng cứ lởn vởn phía trước. Tôi bỗng giật mình khi biết mình vừa băng qua nghĩa địa. Tôi vừa lo, vừa sợ, vừa giận, nghĩ có lẽ bị ai đó trêu chọc. Tôi nhất định tông xe vào cái bóng, đụng đại, nếu không đụng thì biết ngay là… ma. Tôi kềm chặt tay lái, rú ga, phóng xe chạy thật nhanh nhắm ngay cái bóng nhào tới thì thấy mình đang chạy vào khoảng không. Tôi thắng xe lại, người run lẩy bẩy. Tôi đứng ở dưới chân cầu định thần lại chừng 15 phút, cách dốc cầu khoảng 100 thước. Bỗng nhiên, tôi nghe một tiếng nổ ầm vang làm tôi bay nhào xuống ruộng. Chiếc xe của tôi ngã lăn, vẫn còn nổ máy, đèn sáng chói.
Một hồi sau, mấy người lính Bảo An giữ đồn chạy tới rọi đèn la lối: "Ai đây, ai làm gì đây?"
Khi rọi đèn thấy tôi, họ la lên: "Ủa H. hả? Đi đâu đây?"
Tôi thều thào: "Tao đi chơi khuya về".
Đó là đồng đội của tôi nhìn ra tôi mặt đầy bùn đất. Tôi chỉ bị xây xát vì sức nổ đánh té xuống ruộng.
Họ hỏi tôi: "Ông say rượu hả?"
Tôi cười mếu: "Có chút chút".
Mấy ổng dựng xe lên, đạp máy cho tôi chạy đi. Thì ra, Việt Cộng đặt mìn phá cầu. Nếu không nhờ bóng trắng đó chặn đường thì tôi đã banh xác”.
Ông Q. H nói thêm: “Khi tuổi ngoài 50 tuổi, những đêm khó ngủ, nằm nhớ lại chuyện đã xảy ra, tôi mới hiểu phần nào sự huyền bí của thế giới vô hình. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, thường đón xe lam đến trường. Có một bữa trưa, tôi ngồi cạnh một bà lão. Tôi nhường chỗ cho bà cụ vô ghế trong. Da của bà đã trổ đồi mồi, răng rụng chỉ còn trơ vài cái. Tới lúc bà cụ xuống xe, tôi tội nghiệp dành trả tiền xe cho bà. Khoảng nửa tháng sau, cũng trên đường đi học, cũng ngồi xe lam, cạnh một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa mặc sắc phục rằn ri mà tôi không nhớ binh chủng nào. Ông bảo tôi: ‘Lên đây ngồi đi em’. Tới trường, tôi xuống. Ông lính bảo: ‘Em đi học đi, anh trả tiền cho’.
Bây giờ nhân quả báo liền. Mình giúp người này thì người khác giúp mình. Nhân quả trong đời này rất nhanh. Nếu mọi người đều làm việc tốt, nghĩ chuyện tốt thì xã hội yên ổn, tốt đẹp”.
Ông Q. H. tâm sự: “Tôi làm đây hơn 20 năm. Trước đó, tôi làm nhân viên Sở Giao Thông Vận Tải, nhậu quá lâm bệnh, có lần xỉu tại chỗ. Tôi bị sưng gan, vô bệnh viện điều trị, chỉ bị tổn thương chứ chưa tới nỗi chai gan. Có ông bác sĩ nằm kia, đã điều trị bệnh cho tôi, la rầy tôi dữ lắm nhưng lại chết vì ung thư gan, vì nhậu rượu quá nhiều. Khi mình ở nhà, bạn đến rủ đi nhậu, còn mình nằm bệnh thì không ai tới tìm, cuối cùng chỉ có vợ con ở bên giường bệnh. Tôi nghĩ buồn sự đời mà bỏ đứt rượu luôn 10 năm nay”.
Ông Q. H. tin vào nhân duyên, mạng số. Không phải tình cờ, mà nhờ nhân duyên, ông trở thành người săn sóc bảo tháp, an ủi những linh hồn vất vưởng ở chùa Vĩnh Nghiêm đã 20 năm nay.