Tùy Bút Như Khanh
Chơi Thả Thuyền
Ký túc xá trường tôi nằm một bên bờ sông Sài Gòn, bên kia là khu du lịch Bình Quới. Có một đêm, bên
khu du lịch tổ chức đêm tưởng niệm ai đó nên thả đèn hoa, chúng trôi sáng một khoảng sông. Cả ký túc tràn ra mé sông đứng xem. Hôm sau, cả khu ký túc xá, bắt đầu chơi lại một trò chơi thời thơ ấu: thả thuyền giấy.
Đa số xếp thuyền bằng giấy báo đã bỏ nhưng loại này ngấm nước nhanh nên rất mau chìm. Những sáng kiến “dỏm” như bọc thêm bịch nilông bên ngoài lại làm cho thuyền đứng chựng một chỗ, không chịu trôi. Vậy là, chỉ vài ngày hôm sau, gần như không còn đứa nào chơi thuyền giấy nữa. Chúng tôi tận dụng mọi loại vật liệu từ bãi đất hoang sau căng tin, nơi có hàng chục cây dừa và tràm mọc trên đủ thứ hoa dại và rác rưởi, cộng với đồ nghề học vẽ và điêu khắc, để “chế” thuyền. Mỗi đứa một chiếc, mỗi chiếc một kiểu, không chiếc nào “đụng” chiếc nào.
Đến đó, chúng tôi mới biết rằng, trên cuộc đời này, cũng có đứa chưa bao giờ biết bài hát “Tính tính tính tình tang tang tang, cuộc đời mình như chiếc thuyền nan, trôi nó trôi bềnh bồng…”. Trong số những kẻ chưa biết đó, có Trung “xác ướp”. Trung “xác ướp” rất lạc hậu với cuộc sống. Nó giống như một “xác ướp” vài trăm năm trước vừa mới sống dậy. Ngày mới tới ký túc xá, việc đầu tiên nó làm là tắm sông. Cũng kể từ ngày đó, trong nội quy ký túc xá có thêm điều 11 là “cấm tắm sông” vì lý do có thể có cá sấu. Thả thuyền chung với Trung rất sướng, nó không đứng trên bờ mà lội ào xuống nước theo sát mấy con thuyền, lâu lâu, sốt ruột, nó thò tay đẩy cho thuyền thêm trớn. Sông Sài Gòn có đủ loại tàu thuyền chạy ngang. Những khi có ca nô hay xà lan chở cát, sóng dập rất dữ, nếu không có Trung “xác ướp” lội bì bõm, canh chừng từng chiếc thuyền thì thuyền của chúng tôi đã chìm hết...
Ngày nhỏ, ba tôi không cho tôi theo bạn bè ra sông thả thuyền vì tôi không biết bơi. Những lúc ấy, tôi ở nhà và nghĩ rằng trên đời này chẳng có ai chơi với mình. Tuy nhiên bé Thỏ ở lại chơi với tôi dù nó là đứa bơi giỏi nhất xóm. Chúng tôi chờ trời mưa và xếp thuyền thả ở khoảng sân ngập nước trước nhà. Xung quanh sân mọc đầy hoa mười giờ, trong tưởng tượng, chúng là những cánh rừng. Nhà tôi có mấy tảng đá lấp lánh ánh kim loại của một người bạn ba tôi, chuyên nghiên cứu về khoáng sản tặng ba. Tôi với bé Thỏ hè nhau khiêng ra đặt ở chỗ nước ngập sâu nhất để làm đảo châu báu. Ba tôi không rầy mà còn làm thêm cho chúng tôi những cái nhà sàn tí hon bằng tre và mấy chiếc đũa...
Với bài hát mà tôi kể ở đầu bài, Trung “xác ướp” chỉ nghe một lát là thuộc. Từ hôm đó, khắp ký túc xá phải nghe hoài tiếng huýt sáo “hú hú hú hù hu hu hu…” của nó, từ hồ nước tập thể lên phòng ở, xuống nhà bếp rồi ra căn tin… Chị Dịu trong phòng tôi lẩm nhẩm hát theo. Thật ra chị có một cái tên khác, nghe hơi giống con trai nhưng tánh chị rất dịu dàng và tốt bụng nên chúng tôi gọi chị là chị Dịu, kêu riết rồi thành quen...
Bé Thỏ cũng không biết bài hát đó. Tôi đã học thuộc và dạy lại cho nó từ một quyển sách khổ lớn, bìa màu xanh có tựa là “100 bài hát thiếu nhi”. Thuộc hết rồi, chúng tôi lại hỏi ba xem những nơi mà bài hát nhắc tới, những Karachi, Tokyo,... ấy là ở nước nào để chúng tôi tìm chúng trên trái đất nhỏ, làm bằng nhựa của mình và tự nhủ rằng: À! Tất cả các con thuyền nan bồng bềnh của mình rồi sẽ đi đến những chỗ đó. Mỗi khi chơi thả thuyền, chúng tôi lại cùng hát vang trời. Có lần, hai con cóc con leo lên đảo châu báu, đang ngồi chễm chệ trên đó, nghe chúng tôi cất tiếng hát liền nhảy tòm xuống nước, lủi vào cánh rừng hoa mười giờ...
Càng lúc, chuyện “đầu tư” cho những con thuyền của chúng tôi càng tốn kém và phức tạp hơn. Thậm chí những đứa học điêu khắc còn làm khuôn và đổ ra những con thuyền bằng poly. Tôi cũng xin được của đứa em con người cô một chiếc thuyền mà nó không chơi nữa nhưng lại rất hiện đại đối với chúng tôi. Thuyền làm bằng thiếc, có bánh lái và gắn động cơ chạy bằng pin. Chiếc thuyền này đã trở thành vô địch ký túc xá về chạy nhanh và lâu, thậm chí nó đã chạy được hết chiều ngang sông Sài Gòn và chúng tôi phải chạy xe vòng qua tận Bình Quới để vớt về. Riêng những con thuyền của Trung “xác ướp” vẫn như cũ: xếp bằng giấy bìa cứng có hai ống khói. Một buổi xế chiều, Trung chất lên đó đầy hoa, nước dập dềnh, dập dềnh thế nào mà cuối cùng con thuyền hoa ấy lại mắc vào thuyền của chị Dịu để bắt đầu một câu chuyẹn tình...
Tôi bỗng nhớ lại một niềm tin thưở còn mà mình đã quên từ lâu lắm rồi, có lẽ, đôi khi, “cuộc đời mình như chiếc thuyền nan” thật!
Diều
Mùa hè năm ngoái tôi lại lên Đà Lạt. Khi đến bờ hồ Xuân Hương thì mới chỉ ngả chiều, trời còn nắng và có một điều mới mẻ. Mọi người đang chơi thả diều ở công viên đối diện hồ. Một cái công viên mới xây và một không khí tươi mới hơn tất cả những lần trước. Có lẽ cả thành phố đang tập trung ở đây, bận bịu và hớn hở cầm dây dẫn dắt con diều của mình tung hoành trong đội hình diều đầy dáng vẻ và màu sắc. Chúng tôi, vai còn mang balô, dừng lại và ngồi bên trong dòng người ấy cho đến khi trời mờ tối, ngạc nhiên nghe lòng đang sống lại những cảm giác thơ dại của tuổi thơ, ở một nơi không phải quê mình.
Khi lớn khôn, người ta thường tự hỏi tại sao trẻ con mê những con diều, gần như say đắm? Bởi vì ngày xưa con nít không có nhiều trò để chơi, bởi vì diều là thứ đồ chơi duy nhất có thể bay được trên trời hay bởi vì có thể mặc sức thả theo những cánh diều đủ thứ tưởng tượng thơ ngây và táo bạo của riêng mình?
Ngày xưa, muốn chơi diều thì phải tự làm, mọi công đoạn đều thủ công, cả hồ để dán giấy cũng phải tự khuấy bằng bột củ năng. Chú Út tôi là một tay làm diều cừ khôi, tôi là phụ tá trong khoản cắt giấy và vẽ mặt cho diều khi diều đã dán xong.Tôi thường trang điểm thêm lông mi và hai má hồng cho những con diều của mình nhưng chú Út tôi luôn luôn phản đối. Vì thế, những con diều của chúng tôi có tới hai mặt, khác hẳn nhau, một bên là gái, còn một bên là trai.
Nhà tôi nằm trong một con đường nhỏ nên rất vắng vẻ và nhiều dây điện chăng ngang dọc trên trời. Cứ tới mùa hè, khi trời khô ráo, lộng gió và không còn bài vở để học, bọn trẻ con lại nô nức làm diều và thả ngay trên lộ. Diều của hai chú cháu tôi thường nhỏ nhưng lên nhanh và cao, chúng lại ít bị mắc vào dây điện. Điều này rất quan trọng vì khi đứa nào có diều bị mắc dây điện, chuyện sẽ thành nan giải. Nếu dùng cây khều hay leo lên cột để gỡ ra sẽ bị người lớn la rất dữ, còn nếu đành đoạn bỏ luôn ở đó thì vừa tiếc đứt ruột lại vừa bị những đứa khác cằn nhằn vì xác diều để lại sẽ cản trở đường bay của những con diều khác. Đôi lần, do diều vướng dây điện, lúc đang gỡ diều xuống, chú Út còn bắt được cho tôi con Cam, con Quýt (chúng là những con bọ, mỗi mùa hè lại bay vào trong phố đeo bám trên những cành cây hay đường dây điện). Lúc ấy, tôi tin rằng, chính con diều đã bay đi và mang những người bạn của nó đến gặp gỡ chúng tôi.
Những con diều của tôi đều là diều tự làm và chơi chung với chú Út. Tôi chưa bao giờ có một con diều của riêng mình. Chơi diều vui nhất ở chỗ có bè bạn. Có những cảm giác mà dẫu bao nhiêu năm tháng đã trôi qua ta vẫn không bao giờ quên được, chẳng ạn như sự lâng lâng khi con diều cất cánh trong lúc hai tay hối hả tuôn cho những sợi dây dài ra mãi. Có những đêm, tôi còn nghe thấy tiếng chạy lấy đà phình phịch của chú Út ở đằng trước và cả tiếng lòng mình đang hồi hộp rồi vui như vỡ ra khi cái đuôi diều mình đang nâng trên hai tay bỗng hổng lên và lên mãi, xa tít.
Bây giờ, giữa Sài Gòn, cứ mỗi mùa hè, người ta chỉ cần bỏ ra đôi ba chục ngàn là sẽ có một con diều to và sắc màu sặc sỡ, kèm cuộn dây dài và chắc chắn là nó sẽ lên nhanh như diều gặp gió. Những con diều ngày nay không còn phải nối lại từ giấy tập học trò, không còn phải chuốt tre hay quấy hồ và nếu có lỡ tay làm rớt xuống nước cũng chẳng hề gì. Tôi có một chị bạn kiếm đủ tiền học phí cho bằng cách bán diều bằng vải dù trong suốt mùa hè. Chị đã đi qua năm năm đại học bằng những con diều được may theo kiểu công nghiệp ấy. Chị kể rằng dù chị biết ơn chúng lắm nhưng lòng thì vẫn nhớ mãi những cánh diều nối bằng giấy tập, đôi chỗ còn chi chít chữ màu mực tím. Suốt năm năm trời mua đi, bán lại diều, chưa bao giờ chị thả lên trời một con diều của thời hiện đại.
Tôi nghĩ có lẽ mình gặp may, vì gia đình tôi không khá giả nên phải mua đất cất nhà ở ngoại ô. Những ngày chúng tôi mới dọn về đây, xung quanh vẫn còn là những mảnh ruộng nằm xen kẽ các ao sen, xa xa mới là khu công nghiệp. Tôi và chú Út vẫn có thể chơi diều - một con diều làm sẵn mà chúng tôi gọi là diều công nghiẹp. Thế nhưng ở đây lại chẳng còn bè bạn, chỉ có hai chú cháu tôi với con diều lớn hình cá mập, nên chẳng vui chút nào, chơi diều chỉ là cho đỡ ghiền và đỡ nhớ. Bởi vì nhớ nên chúng tôi thấy buồn. Rồi có một lần, con diều ấy đứt dây bay mất, có lẽ đã rơi vào khu công nghiệp. Sau đó ít lâu, ruộng, ao quanh nhà chúng tôi trở thành khu quy hoạch. Chúng tôi không còn chơi thả diều chung nữa. Tuy nhiên, tôi vẫn còn đi thả diều thêm vài lần với những người bạn mới. Chúng tôi, lưng mang balô, tay cầm diều, chạy xe máy trong dòng người đông đúc để đến những khu đất trống ở quận 8 hay miệt Bà Điểm để ăn uống, tán gẫu nhiều hơn là thả diều và gửi gắm những ước mơ. Thế nhưng, những khu đất trống ấy cũng phải nhường chỗ cho những dự án. Trong các khu quy hoạch, người ta không chừa chỗ cho diều. Dẫu rằng, trong số những nhà đầu tư, những kiến trúc sư, kỹ sư vạch ra, thực hiện các dự án ấy, có không ít người từng là những đứa trẻ đến Sài Gòn này từ vùng quê nào đó, từng viết những ước mơ mà mình đạt được hôm nay lên những cánh diều để gửi chị Hằng.
Dù không còn chơi thả diều nữa nhưng trong phòng chú Út của tôi vẫn treo một bức tranh cũ vẽ chú mục đồng ngồi trên lưng trâu thổi sáo, một bàn chân móc vào sợi dây diều, ở góc tranh là con diều đã bay xa tít. Đến bây giờ, dẫu đã lớn, mỗi lần ngắm bức tranh, tôi vẫn không ngăn được cảm giác bùi ngùi như những ngày thơ ấu, thương cho chú mục đồng cô đơn với sáo diều, một mình, không bè bạn.
Bài viết trích từ tạp chí Thế Kỷ 21 - Ấn phí mổi cuốn 10 đô la
- Một năm 12 số giá 100 đô la.
Đặt mua báo xin đề gửi Thế Kỷ 21 tại địa chỉ 14772 Moran St - Westminster - CA 92683 - USA
Email: TapChiTheKy21@yahoo.com
