Mối Tình Đảng Trưởng VNQDĐ Nguyễn Thái Học - Cô Giang
Ít ai biết được rằng trong một ngôi nhà hai tầng nằm khép mình trên con phố của làng Thổ Tang (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc), có một thầy lang khá mát tay, nói giọng Việt lơ lớ. “Ông lang Tàu” ấy
chính là Nguyễn Thái Nỉ, người em út của lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng Nguyễn Thái Học nổi tiếng với cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930.
Ở tuổi 86, cụ Nguyễn Thái Nỉ tuy phải đeo máy trợ thính nhưng vẫn khá minh mẫn và hóm hỉnh, tiếp tôi tại buồng riêng trên tầng hai của ngôi nhà nồng thơm mùi thuốc bắc.
Người anh phi thường
Sau tuần trà nước do người nhà bưng lên, đà đưa câu chuyện, cụ Nỉ xúc động khi nói đến người anh cả Nguyễn Thái Học và người chị dâu Nguyễn Thị Giang (Cô Giang).
Cụ bảo giá tôi đến sớm hơn tháng, thì cùng gia đình làm giỗ tưởng nhớ đến anh chị Học. “Đã thành thông lệ, cứ đến ngày 16-6 là gia đình tôi làm giỗ cho anh Học, chị Giang!”
Bàn thờ hai anh chị Nguyễn Thái Học và Nguyễn Thị Giang tại gia đình người em út Nguyễn Thái Nỉ.
Gia đình cụ Hách – Quỳnh, thân sinh ra cụ Nỉ sinh được sáu người con. Nguyễn Thái Học là con trai trưởng, tiếp đến chị gái hai là Nguyễn Thị Bình, chị gái ba Nguyễn Thị Ưu, anh trai tư Nguyễn Văn Nho, anh trai năm Nguyễn Văn Lâm và Nguyễn Thái Nỉ là con trai út.
Anh cả Nguyễn Thái Học thực tên trong sổ đinh của làng Thổ Tang trước năm 1930 là Nguyễn Văn Học, sở dĩ có tên đệm là Thái là do người cậu ruột đặt cho từ năm ông Học 9 – 10 tuổi.
Khi ông Học đến học chữ Nho ở nhà người cậu ruột, ông rất sáng dạ nên chỉ hai năm là hết chữ của ông cậu, nên ông mới thay chữ đệm là Thái vào chữ Văn khi ông cậu đưa ông Học ra theo học trường tiểu học Pháp – Việt ở phủ Vĩnh Tường.
Sau đó ông Học về Hà Nội học cao đẳng Sư phạm, tốt nghiệp xong, ông học tiếp trường cao đẳng Thương mại.
“Khi tôi năm tuổi, anh tôi thỉnh thoảng đi cùng chị Giang về nhà, chị đẹp lắm, chị mặc quần áo tân thời”, cụ Nguyễn Thái Nỉ hồi tưởng.
Chị Giang lần nào về thăm cũng mua quà cho bé Nỉ vì cậu là em út. Còn anh Học hay hút thuốc lào và ăn trầu. Dáng anh Học ngủ cũng buồn cười lắm, anh luôn nằm sấp và hai chân quặp lên mông.
“Gia đình tôi ai cũng mến chị Giang, tuy ban đầu chỉ có bà cụ là không ưa vì trước đó anh Học đã lấy vợ, tên chị là Cửu do bà cụ sắp xếp. Sau anh Học xin ly hôn và được chị Cửu đồng ý, rồi chị cũng đi lấy chồng khác. Bà cụ tôi sau đó nguôi ngoai và coi chị Giang, tuy lúc ấy là bạn gái của anh Học như con dâu”, cụ Nỉ nói.
Anh Học thì giỏi về diễn thuyết, chị Giang thì dịu dàng, thông minh. Anh chị ngâm thơ, xướng hoạ cùng các bạn trước sân đình làng. Những thanh niên
trí thức kể cả trai tráng trong làng đi lính khố xanh, khố đỏ cũng thích đến nghe anh chị nói chuyện thời sự, về nỗi khổ của dân mình.
“Anh đi, chị cũng đi cùng”
Thời đó gia đình Nguyễn Thái Học có hai ngôi nhà nằm cạnh nhau, một ngôi nhà lợp rạ và một ngôi nhà lợp lá cọ. Nguyễn Thái Học về nhà thường hay bàn việc với các bạn ở Sơn Tây sang, Việt Trì xuống ở ngôi nhà lá cọ.
“Lần cuối cùng tôi được gặp anh đó là lần anh cùng một người bạn về chơi vào mùa thu năm 1929. Trước khi đi, anh Học xin tiền mẹ tôi nhiều hơn mọi khi khiến bà phân vân.
Bạn anh Học đứng bên cạnh đỡ lời: “Anh Học sắp làm quan rồi, mẹ có thuận không?” Mẹ tôi trả lời: “Tao không cần nó làm quan, mà chỉ cần nó làm điều chính đáng!” Rồi anh Học đi và không trở về nhà lần nào nữa.
“Một buổi chiều đầu hạ năm 1930, nhiều tiếng khóc oà như đổ sụp mái gianh của gia đình tôi. Cha tôi trầm tính hẳn đi, còn mẹ tôi đau đớn nói với mọi người trong nhà: “Con tôi bị lũ chó săn vồ rồi…!”. Cả nhà tôi bị quân lính Pháp, hương lý đổ dồn đến bao vây, lục soát và canh giữ suốt ngày đêm. Ngày anh tôi lên đoạn đầu đài cũng là ngày mẹ tôi không ăn, không ngủ, không trò chuyện với ai. Cụ lặng lẽ đi ra trại Đồng Ca, nhà tôi có một trang trại ở đó, nơi ấy có một túp lều tranh và mẹ tôi đã qua đời trong đó”.
Cụ Nỉ rưng rưng nước mắt: “Còn chị Giang, sau khi anh Học bị hành hình, chị đã về Thổ Tang quê chồng ngay đêm ấy, qua nhà dì ruột của tôi mà không ghé qua gia đình tôi vì lúc đó đang bị mật thám cùng tuần đinh lảng vảng suốt ngày. Chị có gửi lại một chiếc đồng hồ quả quít được gắn vào sợi dây chuyền vàng và nhắn cho gia đình tôi biết là chị đã quyết đi cùng anh. Chiếc đồng hồ ấy sau này không giữ được bởi lẽ gia đình trong những ngày cải cách ruộng đất khó khăn đã phải bán đi, hay tiêu huỷ hoặc thất lạc tôi cũng không được rõ”. Cụ Nỉ lấy khăn chấm nước mắt.
Cụ Nỉ bỗng nức lên: “Khi tôi đang mân mê ngắm chiếc đồng hồ thì ai đó chạy vào kêu lên, chị Giang đã tự vẫn ở ngoài đầu làng rồi!”…
o0o
Nguyễn Thị Giang
Trích bài của Bùi Thụy Đào Nguyên.
I. Nguyễn Thị Giang (1906–1930), tức Cô Giang, là một nhà cách mạng người Việt chống thực dân Pháp và là hôn thê của Nguyễn Thái Học, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Việt Nam.
Cô Giang, sinh năm 1906 [1] tại thị xã Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Bà là con của ông Nguyễn văn Cao (?- 1925) và bà Nguyễn Thị Lưu (?- 1936) và là em ruột Nguyễn Thị Bắc, tức Cô Bắc.
Bà là con thứ hai trong một gia đình gồm bảy
người con cả trai và gái, vốn quê ở môt làng dệt thuộc tỉnh Hà Đông, vì thân phụ tham gia phong trào văn thân nên phải dời lên buôn bán tại số 2 phố Thọ Xương, thị xã Phủ Lạng Thương (nay là thị xã Bắc Giang, tỉnh Hà Bắc).
Nguyễn Thị Giang, tức Cô Giang.
1. Gia nhập đội ngũ kháng Pháp:
Sau khi học xong lớp nhất, Cô Giang cùng chị là Cô Bắc được nhà yêu nước Nguyễn Khắc Nhu (tức Xứ Nhu) dìu dắt rồi kết nạp vào tổ chức Việt Nam Dân Quốc [2].
Ngày 25 tháng 12 năm 1927, nhóm trí thức trẻ trong Nam Đồng thư xã đứng ra thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau đó, đảng này sáp nhập với Việt Nam Dân Quốc vì họ có cùng mục tiêu là “đánh đuổi người Pháp ra khỏi nước Nam, giành nước Nam lại cho người Nam”.
Nhờ việc sáp nhập này, Chủ tịch Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nguyễn Thái Học có dịp làm quen với Cô Giang. Hợp lòng nhau, vào một buổi chiều từ Phú Thọ về xuôi, hai người ghé vào Đền Hùng, sau khi hội đàm với các đồng chí của mình, cả hai vào đền thờ Tổ để cùng thề hẹn... Theo một Ủy viên trong Việt Nam Quốc Dân Đảng là nhà văn Nhượng Tống, thì trong buổi ấy, Cô Giang đã cố xin Nguyễn Thái Học giao cho một khẩu súng lục, và hứa rằng “nếu Học chẳng may chết vì nước, thì Giang cũng xin lấy khí giới này mà chết theo chồng!” [3]
Đứng trong hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cô Giang được cử giữ chức Tổng thư ký của đảng. Sau, cô cùng chị là Cô Bắc được cử phụ trách việc truyên truyền, làm binh vận và liên lạc giữa các cơ sở đảng ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Yên, Yên Bái... Và bất cứ ở nơi đâu, hai chị em cô đều hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc.
Vào trung tuần tháng 5 năm 1929, Nguyễn Thái Học triệu tập đại hội đảng toàn quốc tại làng Đức Hiệp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, quyết định chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Công việc chuẩn bị chưa hoàn tất, thì cuối năm 1929 tại Bắc Giang một cơ sở chế bom bị tai nạn phát nổ, và đầu năm 1930 người Pháp bắt giữ được nhiều đảng viên và khám phá được rất nhiều cơ sở chế tạo vũ khí. Trước tình hình bất lợi, Nguyễn Thái Học cho triệu tập hội nghị khẩn cấp, quyết định tiến hành khởi nghĩa tại các nhiều nơi vào đêm mồng 10, rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930.
Được phân công, chị em Cô Giang phụ trách chi bộ khu nữ vận chuyển vũ khí từ Phú Thọ lên Yên Bái bằng xe lửa. Họ giả làm người buôn bán gạo, cám, hoa quả... với những gồng gánh cồng kềnh nhưng phía dưới là mã tấu, lựu đạn và súng ống...
2. Khởi nghĩa thất bại:
Cuộc khởi nghĩa đã nổ ra nhiều nơi (khi ấy Cô Giang được phân công chỉ huy mặt trận tỉnh Bắc Ninh), nhưng nhanh chóng bị thất bại. Bởi Thống sứ Robin đã cho lính đi trấn áp quyết liệt, sai cả máy bay trút bom dữ dội xuống làng Cổ Am (Hải Phòng) và nhiều làng mạc khác.
Lãnh tụ Nguyễn Thái Học cùng nhiều đồng chí nồng cốt (trong số đó có cả Cô Bắc) đều bị đối phương bắt được. Nghe tin vị hôn phu của mình bị bắt (ngày 20 tháng 2 năm 1930, Nguyễn Thái Học bị bắt tại ấp Cổ Vịt [Chí Linh, Hải Dương]). Cô Giang đã nghĩ đến kế hoạch táo bạo là tấn công nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) để giải thoát cho Nguyễn Thái Học và các đồng chí khác.
Kế hoạch chưa kịp thực hiện, thì ngày 16 tháng 6 năm 1930, Cô Giang nghe tin nhà cầm quyền Pháp đã đưa Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí từ Hà Nội lên Yên Bái, để xử chém vào ngày hôm sau (17 tháng 6).
Tức thì, Cô Giang cải trang, giấu khẩu súng lục trong người rồi đi tàu hỏa lên đó. Xem xử xong, cô lặng lẽ trở về phòng trọ viết hai bức thư tuyệt mệnh trên trang giấy khổ nhỏ, bằng bút chì xanh. Lá thư thứ nhất cô gửi cho cha mẹ anh Nguyễn Thái Học, còn lá thứ hai cô gửi cho người chồng nơi chín suối. Viết xong thư, Cô Giang ra chợ mua mấy vuông vải trắng, thắt ngang đầu để tang chồng, rồi đáp tàu hỏa về Vĩnh Yên, quê Nguyễn Thái Học, ngay buổi chiều tối hôm đó.
3. Tự sát
Tờ mờ sáng ngày 18 tháng 6 năm 1930, cô về làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường (nay thuộc Vĩnh Phúc) để lạy tạ cha mẹ chồng (ông Nguyễn văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh), tháo chiếc đồng hồ có khắc
chữ "G" tặng cho Nguyễn Văn Lâm, em trai Nguyễn Thái Học và từ giã mọi người.
Bàn thờ Nguyễn Thái Học - Cô Giang ở làng Thổ Tang, Vĩnh Phúc.
Trên đường đi cô ghé quán trà bên gốc cây đề, thuộc Xóm Mới, xã Đông Vệ giáp quốc lộ số 2, cách làng Thổ Tang ước chừng một cây số. Sau khi uống bát nước trà xanh, từ biệt bà chủ quán, cô đến đứng dưới gốc cây đề, mắt nhìn về hướng làng Thổ Tang và tự kết liễu đời mình bằng khẩu súng lục mà Nguyễn Thái Học tặng cô ở đền vua Hùng ngày nào.
Hôm ấy là ngày 18 tháng 6 năm 1930, nhằm ngày 22 tháng 5 năm Canh Ngọ. Nghe tin Cô Giang tự sát, quân Pháp lập tức có mặt để nhận dạng. Biết đúng là cô, họ liền ra lệnh chôn, rồi đặt điếm canh để không ai được đến thắp hương. Tuy nhiên, theo Lê Minh Quốc, thì “trên mồ của người nữ cách mạng này bao giờ cũng có những bông hoa đỏ thắm”. [4]
4. Hai bức thư của Cô Giang trước khi tuẫn tiết:
Bức Thứ Nhất:
Ngày 17 tháng 6 năm 1930
Thưa Thầy, Mẹ,
Con chết là vì hoàn cảnh bó buộc con; không báo được thù nhà, rửa được nhục cho nước! Sau khi đã đem tấm lòng trinh bạch dâng cho chồng con ở Đền Hùng. Giờ con tìm về chỗ quê cha, đất tổ, mượn phát súng này mà kết liễu đời con!
Đứa con dâu bất hiếu kính lạy.
Bức Thứ Hai:
Anh đã là người yêu nước! Không làm tròn được nghĩa vụ cứu quốc, Anh giữ lấy tấm linh hồn cao cả để về chiêu binh, rèn lính ở dưới suối vàng! Phải chịu đựng nhục nhã mới có ngày mong được vẻ vang! Các bạn đồng chí phải sống lại sau Anh, để đánh đổ cường quyền, mà cứu lấy đồng bào đau khổ!
Thân không giúp ích cho đời!
Thù không trả được cho người tình chung!
Dẫu rằng đương độ trẻ trung,
Quyết vì dân chúng thề lòng hy sinh.
Con đường tiến bộ mông mênh,
Éo le hoàn cảnh buộc mình biết sao!
Bây giờ hết kiếp thơ đào,
Gian nan bỏ mặc đồng bào từ đây!
Dẫu rằng chút phận thơ ngây,
Sổ đồng chí đã có ngày ghi tên;
Chết đi dạ những buồn phiền,
Nhưng mà hoàn cảnh truân chuyên buộc mình!
Đảng kỳ phất phới trên thành,
Tủi thân không được chết vinh dưới cờ.
Cực lòng nhỡ bước sa cơ,
Chết sầu chết thảm có thừa sót xa!
Thế ru! Đời thế ru mà?
Đời mà ai biết? Người mà ai hay?
* * * * *
Chú thích:
[1]. Ghi theo Khổng Đức Thiêm, bài viết đăng trên tạp chí Xưa và Nay số 2 năm 1995 của Hội khoa học lịch sử Việt Nam. Có nguồn cho biết Cô Giang sinh năm 1909. Nhưng theo Lê Minh Quốc, thì tài liệu của nhà nghiên cứu Khổng Đức Thiêm là rất đáng tin cậy.
[2]. Theo sự gợi ý của nhà cách mạng Phan Bội Châu, năm 1926, Nguyễn Khắc Nhu thành lập hội Quốc Dân Dục Tài, hoạt động như kiểu Đông Kinh Nghĩa Thục để đào tạo nhân tài ra cứu nước. Sau, ông Nhu cho đổi tên là Việt Nam Dân Quốc. Lúc này, ngoài việc đào tạo, hội còn mở xưởng làm lựu đạn, rèn vũ khí để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa bằng vũ trang (Lược theo Lê Minh Quốc, tr. 190).
[3]. Nhà văn Nhượng Tống cũng cho biết: Anh Học lúc còn trẻ, mẹ cha đã cưới một người vợ tên là Nguyễn Thị Cửu cho anh. Năm 1927, khi sắp lập Đảng, anh có nói với tôi (Nhượng Tống) là đã ly hôn với vợ. Bấy giờ nhiều người như thế lắm: anh Nho, anh Chính, đều từ hôn hay cho vợ về cả. Các anh không muốn đem cuộc đời sóng gió của mình mà làm phiền lụy đến một người đàn bà. Ấy vậy mà có một ngày Anh tuyên bố với các bạn là Anh xin phép để được kết hôn cùng cô Giang! Điều này cho biết hai người rất yêu thương nhau.
[4]. Theo Lê Minh Quốc, tr. 195.
- - - - - - - - - -