Xin Chào Vị Khách Thứ
SEARCH
    Nguyễn-Châu
9/9/2011 1:02:36 AM  

Trung Thu Nói Chuyện Trăng
 
Nguyễn-Châu

 
Trăng đã đi vào đời sống loài người không biết tự lúc nào. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ lớp người đơn sơ sống nơi hoang dã, đến những tầng lớp có văn hóa và nhiều kiến thức... Trăng cũng đã trở nên rất quen thuộc. Hình trăng đã được khắc họa trong các hang động của người tiền sử, ánh trăng đã được nâng niu trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. Ðặc biệt là đối với thi nhân và những tâm hồn lãng mạn, phóng khoáng tiêu dao: Trăng trở thành một đề tài rất phong phú, trăng là người tri kỷ, là một vẻ đẹp cao sang, là cõi ước mơ của những tâm tư bị cuộc đời... phũ phàng, bạc đãi. Trăng còn là nhân chứng cho những cuộc thề nguyền của những đôi tình nhân..., là đơn vị đo thời gian, là một trong bốn món của giới phong lưu tài tử... Như vậy có thể nói trăng đã trở nên một thành phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày. Chính vì sự hiện diện thường trực trong xã hội loài người mà trăng đã được, hoặc bị, nhiều cách thế khác nhau. Người thì trân trọng quí yêu, kẻ thì hờn trách, miệt thị...


 
TRĂNG TRONG VĂN HÓA NHÂN LOẠI
 
Trước khi có những khám phá của thế kỷ thứ 20 về nguyệt cầu, mặt trăng đã hiện diện trong bầu trời như một tinh tú diụ dàng, như một người đẹp vĩnh cửu (hằng nga), trăng dùng để tính độ tuổi của con gái (xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ) đã có biết bao nhiêu huyền thoại về trăng trong tâm tư nhân loại.


Người Trung Hoa xưa đã tưởng tượng ra những cung điện huy hoàng, nơi có những nàng tiên ca múa vũ khúc Nghê Thường qua chuyến “viễn du” của Ðường Minh Hoàng bay lên nguyệt điện nhờ pháp thuật của phù thủy... Ðường Minh Hoàng là một vị hoàng đế rất sùng thượng nghệ thuật và nghệ sĩ (khoảng thế kỷ thứ 6-7).


Trong bốn đề tài ngâm vịnh của thi nhân xưa: Phong, Hoa, Tuyết, Nguyệt, trăng đứng hàng thứ tư. Nhưng trong văn chương thi phú Việt Nam, trăng thường chiếm ưu thế. Hầu như mọi tác giả đều có nhắc tới trăng trong sáng tác của mình, “trăng như một thể tài không thể thiếu. Từ văn chương bình dân đến lời giảng tôn giáo đèu bàng bạc ánh trăng.


Văn học sử Trung Hoa kể lại giai thoại Lý Bạch vì thương trăng mà chết đuối: Lý Bạch là một thi sĩ nổi tiếng dưới đời Ðường Huyền Tông, rất thích uống rượu. Ông có thể đổi cả áo lông cừu và ngựa quí để chỉ lấy rượu ngon say cùng bè bạn! Tương truyền: một đêm trăng đẹp trên sông Hoàng Hà, khi rượu đã ngấm say, thấy bóng trăng rơi dưới nước, Lý Bạch đã nhảy xuống ôm lấy trăng... và đã bị chết đuối...


Bài thơ nổi tiếng được nhiều người nhắc tới là: Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn
Chí (Ngày Xuân say rượu nói lên chí mình):

 
“Xử thế nhược đại mộng
Hồ vi lao kỳ sinh
Sở dĩ chung nhật túy
Ðồi nhiên ngọa tiền doanh
 
Giác lai miện đình tiền
Nhất điểu hoa gian minh
Tá vấn thử hà nhật
Xuân phong ngữ lưu oanh
 
Cảm chi dục thán tức
Ðối chi hoàn tự khuynh
Hạo ca đãi min nguyệt
Khúc tận dĩ vong tình.”
 
Tạm dịch:
 
“Cuộc đời như mộng lớn
Lao đao chi khổ thân?
Suốt ngày say là vậy
Trước hiên cứ nằm lăn
 
Tỉnh dậy nhìn sân nhà
Chim hót trong khóm hoa
Ứơm hỏi ta ngày mấy?
Gió xuân tiếng chim hòa
 
Cảm xúc muốn thở than
Rượu nghiêng bầu đối cảnh
Hát vang chờ trăng sáng
Hết khúc tình cũng quên.”
(Ly Châu)
 
Trong văn chương Việt Nam, Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) là một trong các thi sĩ có nhiều tình cảm với trăng nhất. Thất bại trong cuộc tình ở trần gian, Tản Ðà đã có lần viết thư lên cõi trời, cầu xin Ngọc Hoàng Thượng Ðế gả cho một người con gái làm vợ:


“Ngồi buồn, lấy giấy viết thư hỏi Trời
Trời xem, Trời cũng nực cười
Cười rằng:“Hạ giới có người oái oăm!
“Chức Nữ tảo tùng giai tế giá
Hằng Nga bất nại bảo phu miên”
Mở then mây quăng trả bức hồng tiên.”


 
Xem thư Tản Ðà, Trời cười, cho là oái oăm, nhưng vẫn trả lời rằng. “Trời chỉ có hai đứa con gái là Chức Nữ và Hằng Nga. Nhưng Chức Nữ thì đã sớm đi lấy chồng, còn Hằng Nga thì không chịu ôm chồng khi ngủ (Bất nại bảo phu miên)” nên đã xin ra ở tại chỗ lạnh lẽo nhất, đó là Cung Quảng Hàn. Có lẽ từ đó mà Tản Ðà đâm ra tơ tưởng “chị Hằng” và thường réo gọi để tâm sự:
 

“Ðêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế xem nay chán lắm rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu, có bạn can chi tủi
Cùng gió, cùg mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.”


 
Người nhìn trăng độc đáo nhất trong văn chương Việt Nam, có lẽ là Hồ Xuân Hương và Hàn Mạc Tử.


Hồ Xuân Hương đã chất vấn trăng một cách hằn học trong bài “Hỏi Trăng”:
 
“Trải mấy thu nay vẫn hãy còn
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Hỏi con Ngọc Thỏ đã bao tuổi?
Chớ chị Hằng Nga đã mấy con?
Ðêm vắng cớ chi phô tuyết trắng?
Năm canh lờ lững chờ ai đó
Hay có tình riêng với nước non?”


 
Và khi vịnh trăng, bà cũng đã có cái nhìn rất lạ:
 
“Một trái trăng thu chín mõm mòm
Này vùng quế đỏ, đỏ lòm lom
Giữa in chiếc bích khuôn tròn méo
Ngoài khép đôi cung cánh vẫn khòm
Ghét mặt kẻ trần đua xói móc
Ngứa gan thằng Cuội đứng lom khom
Hỡi người bẻ quế rằng ai đó?
Ðó có Hằng Nga ghé mắt dòm.”


 
Hàn Mạc Tử thì đã từng đem trăng đi rao bán “Ai mua trăng tôi bán trăng cho!” và đã nhìn trăng qua hình ảnh một phụ nữ khỏa thân:
 
“Ô kìa! Chị Nguyệt trần truồng tắm
Ðể lộ khuôn vàng dưới đáy khe...”

 

hoặc:


“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Ðợi gió đông về để lả lơi...”


 
Trăng trong thơ Lưu Trọng Lư (tiền chiến) thì thổn thức nhẹ nhàng và mờ nhạt:
 
“Em nghe chăng mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em nghe chăng rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ...
 
Em nghe chăng rừng thu
Lá thu rơi xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Ðạp trên lá vàng khô..."
 
 
Nguyễn-Châu