Đọc Bài Báo Cũ:
Nghị Quyết 36 Của CSVN Và Phản Ứng Của Người Việt Hải Ngoại
Nguyễn-Châu
Ngày 26 tháng 3 năm 2004, Bộ Chính Trị CSVN đã ra Nghị Quyết 36 nói về chính sách và cách thế của họ đối với Người Việt Hải Ngoại. Nghị Quyết này đưa ra nhiều chi tiết hơn là Quyết Định Số 210/1999/QĐ-TTg của Phan Văn Khải ký ngày 27 tháng 10 năm 1999 về một số chính sách với người Việt nước ngoài mà đã được hoạch định như một mặt trận văn hóa. Nội dung của Nghị quyết 36 hiện nay là Đảng và nhà Nước Cộng sản xem Người Việt Hải Ngoại là “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” và tìm cách quyến dụ và khống chế.
Sau 29 năm, nay Đảng và Nhà Nước Cộng sản chính thức với tay ra nước ngoài với tham vọng nắm gọn các Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại. Nghị Quyết 36 bắt đầu với một nhận định về sức mạnh và tiềm năng của Người Việt Hải Ngoại trên các lãnh vực kinh tế và kỹ thuật chuyên môn, cũng như đã có một thế đứng xã hội vững vàng tại các quốc gia họ định cư. Mục đích
là lợi dụng lòng yêu quê hương, tình cảm dân tộc của người Việt sống xa tổ quốc để trục lợi bằng sự bòn rút tiền của qua lòng từ thiện và nhân đạo. Nghị quyết có đoạn: “Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và tự hào dân tộc, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con sinh sống với nước nhà, tùy theo khả năng và điều kiện của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc”.
Qua ý tưởng của đoạn này, các nhà phân tích chính trị vạch rõ sự vụng về và khờ khạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước. Đúng vậy, sau hơn một phần tư thế kỷ, Người Việt Tị Nạn Cộng sản định cư tại các nước Tự do Tây phương đã hội nhập một cách tốt đẹp và đã có một tư thế rất vững tại các quốc gia mà họ trở thành công dân, thế mà đến nay “Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt...” Phần khờ khạo này, có lẽ Đảng và Nhà Nước Cộng sản muốn nói đến những công nhân người Việt do Đảng đưa đi “lao động hợp tác và học nghề” tại Đông Âu vào thập niên 90, nay đang sống bất hợp pháp tại Liên Xô và Đông Âu cũ. Hiện nay số người Việt - không được Cộng sản Việt Nam cho hồi hương - này, đang bị các quốc gia Nga, Đức, Ba-Lan, Tiệp Khắc... đòi trục xuất về Việt Nam vì các hoạt động buôn lậu, tệ nạn băng đảng, bạo hành, ma túy, mãi dâm v.v... của họ đã gây nhiều khó khăn, làm mất trật tự xã hội và trị an của các quốc gia Đông Âu cũ này. Nghị quyết kêu gọi “chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc” là chính phủ Cộng sản nhắm vào lớp người này, chỉ thị cho các tổ chức thân Hà Nội, những cán bộ Cộng sản thâm nhập cộng đồng Người Việt hải ngoại, tìm cách chống lại công cuộc chống Cộng sản độc tài, độc đảng, đàn áp, đòi tự do, nhân quyền cho nhân dân tại Việt Nam.
Nghị quyết 36 còn than phiền là Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại đóng góp cho Cộng sản Việt Nam quá ít so với số tài sản mà họ có được tại các quốc gia định cư. Nghị quyết viết: “Sự đóng góp của bà con vào công cuộc xây dựng đất nước, nhất là về tri thức, chưa tương xứng với tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.”!
Mỗi năm Người Việt Hải Ngoại gửi về 3 tỷ đô la Mỹ, tương đương với 45 ngàn tỷ đồng (45,000,000,000,000 đồng) một ngân khoản khổng lồ, gấp ba tiền xuất khẩu dầu khí của Việt Nam! Nhưng Đảng và Nhà Nước chưa bằng lòng!
Người Việt Tỵ nạn định cư tại các nước Âu, Mỹ nhận định rằng: Nghị quyết 36 của Cộng sản Việt Nam hiện nay là một cuộc “ép duyên Người Việt Hải Ngoại”... sau khi đã nức nở ca tụng tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, và lòng yêu quê hương của Người Việt Hải Ngoại, Cộng sản Việt Nam khẳng định họ là “một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Chiêu bài “đại đoàn kết toàn dân tộc” được CSVN dương cao hơn bao giờ hết. (Nguyễn Phượng Hoàng, tạp chí Đại Việt Cách Mạng đảng, số 36).
Sự kiện này cho thấy Nghị quyết 36 là một triển khai chi tiết của Quyết định Số 210/1999/QĐ-TTg, dùng các đoàn ca sĩ gọi là văn hóa nghệ thuật ra hải ngoại, hát nhạc tình thỏa mãn thị hiếu “ưa của lạ”, và lợi dụng tình cảm thương quê hương luôn luôn sống động trong lòng Người Việt quốc gia, để bòn rút đô-la. Đa số người của Cộng Đồng Người Việt Tỵ nạn đã thấy rõ âm mưu và kế hoạch gài người vào Cộng Đồng hải ngoại của Cộng sản Việt Nam, đó là sự thâm nhập một số ca sĩ ăn khách tại Việt Nam đi theo dịch vụ “kết hôn” như họ đã từng làm với ca sĩ Ái Vân hơn mười năm trước, và có thể thâm nhập một vài tài tử điện ảnh theo “khổ nhục kế” (Dư luận hải ngoại đang hoài nghi sự ra đi khỏi Việt Nam Cộng sản của nam tài tử điện ảnh Đơn Dương sau khi Cộng sản Việt Nam chỉ trích vai trò diễn xuất của ông ta trong phim “Người Lính” do Mỹ đạo diễn).
Nghị quyết 36 đưa ra phê phán Đảng là đã không thực hiện “tinh thần đại đoàn kết dân tộc”: “Tuy nhiên, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ. Công tác nghiên cứu, tham mưu về chính sách chưa theo kịp những chuyển biến mới. Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách đã ban hành chưa đồng bộ và chưa thể hiện đầy đủ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc; chưa khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Chưa có hình thức thỏa đáng để cung cấp kịp thời và đầy đủ thông tin cho đồng bào về tình hình đất nước và chính sách của Đảng và Nhà nước. Hình thức vận động cộng đồng còn chưa thực sự đổi mới, đa dạng và linh hoạt để có thể quy tụ, động viên đông đảo bà con tham gia các hoạt động có ích cho cộng đồng và quê hương. Việc phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực, việc khen thưởng, động viên những người có thành tích ít được chú trọng.”
Nói như thế, Cộng sản Việt Nam đã quên rằng: Từ thập niên 70 đến 80, Đảng và nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gọi những người vượt biển ra nước ngoài là bọn người phản quốc, chống phá cách mạng, “là những thành phần rác rưởi, lưu manh, những kẻ phản động, phản quốc, bỏ nước ra đi theo ngụy”. Chính Bộ trưởng Y-tế Nguyễn Thượng Nhân đã phát biểu là “nên treo cổ hết những kẻ phản động ấy”!
Thật trơ trẽn và vô liêm sỉ cho Bộ Chính trị Cộng sản Việt Nam khi ra Nghị quyết 36, thô bạo ôm chầm lấy
khối Người Việt Tỵ nạn. Bộ Chính trị Đảng phải biết rõ hơn ai hết, rằng: “Cộng Đồng Người Việt hải ngoại định cư tại các quốc gia tự do gồm những thành phần đã vì chế độ Cộng sản mà phải “tách rời cộng đồng dân tộc”, liều thân ra đi tìm tự do. Hơn triệu người đã không đủ may mắn để đến bến Tự do, xác thân vùi đáy biển Đông hoặc giữa núi rừng hoang vắng. Những người tìm đường trốn khỏi Việt Nam, chẳng may bị bắt, Cộng sản Việt Nam đã giam cầm, tra tấn, đánh đập và hành hạ không nương tay vì tội danh “vượt biển với mục đích phản quốc”. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam thật chẳng chính trị một chút nào cả, vì lẽ:
- Thứ nhất: Người Việt hải ngoại rất yêu quê hương, rất yêu đất nước, nhưng nhất định không yêu chủ nghĩa xã hội và Đảng Cộng sản. Người Việt Hải Ngoại là những người “Cũng có quê hương, không được yêu!” bởi Cộng sản Việt Nam quy định “yêu nước tức là yêu chủ nghĩa xã hội”. Chủ nghĩa xã hội không thể gán ghép với lòng yêu nước được, vì qua lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời lập quốc, lòng yêu nước, tình quê hương đã từng có một cách mãnh liệt trước khi có chủ nghĩa xã hội của Karl Marx và đảng Cộng sản.
- Thứ hai, Người Việt Hải Ngoại là một bộ phận không tách rời dân tộc, nhưng hoàn toàn tách khỏi Đảng Cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa là một tập đoàn đang cắt đất, dâng biển cho Trung Cộng, đang buôn dân, đang xuất khẩu công nhân, bán phụ nữ sang Đài Loan làm nô lệ nhục dục, đang dẫy đầy đảng viên và cán bộ tham nhũng, đang vi phạm nhân quyền, đang đàn áp tự do tôn giáo, đang bức hại những đảng viên Cộng sản cao cấp giác ngộ đòi cải tổ chính trị.
- Thứ ba: Nghị quyết 36 viết “Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài chưa được quan tâm đúng mức”. Bộ Chính trị muốn nói đến đối tượng nào đây? Chính Đảng và Nhà Nước đã công nhận sự lớn mạnh và vị thế đáng kể của Người Việt hải ngoại trong phần mở đầu nghị quyết 36: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước...” và luôn luôn nuôi hy vọng “khuyến khích mạnh mẽ người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước”. Thế thì những ai sẽ cần đến “Công tác bảo hộ quyền lợi chính đáng” của Đảng đây? Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn Cộng sản đang sống trong các quốc gia có đầy đủ tự do chính trị và quyền làm người, họ được hưởng đủ mọi quyền lợi chính đáng, trong đó có “quyền chống Cộng sản, đòi tự do nhân quyền cho đồng bào họ tại quê nhà”. Nếu “quyền lợi chính đáng của người Việt ở nước ngoài” không được bảo vệ, thì làm sao họ có quyền gửi hàng tỉ đô-la về Việt Nam? Có thể nói “quyền lợi chính đáng của Người Việt hải ngoại” chỉ “không được bảo hộ” khi họ về thăm Việt Nam!
- Thứ tư: Đảng Cộng sản Việt Nam với Nghị quyết 36 đã tập trung nỗ lực mong thực hiện “tham vọng quản lý” Cộng Đồng Người Việt hải ngoại, không quan tâm đến khối 76 triệu người dân trong nước, chỉ vì Đảng đánh giá “Người Việt hải ngoại là nhân tố quan trọng, là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”.
Người Việt hải ngoại nhận thấy đây là một tham vọng ngông cuồng của Cộng sản Việt Nam khi họ chỉ thị: “Các cán bộ nhận lãnh các công tác đối với “người Việt Nam ở nước ngoài” cần phải “mang tính đồng bộ, kết hợp việc xây dựng cơ chế, chính sách với công tác vận động, kết hợp các hoạt động trong nước với các hoạt động ở nước ngoài và phải được tiến hành thông qua nhiều loại hình hoạt động và biện pháp phù hợp với các đối tượng và địa bàn khác nhau, trên cơ sở tự nguyện và không trái với pháp luật, phong tục, tập quán của nước sở tại.”
Chỉ với “2.7 triệu người Việt ở nước ngoài” mà Cộng sản Việt Nam phải huy động toàn bộ hệ thống chính trị của đảng để ra sức khống chế: ”Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân. Các tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương, ở trong nước và ngoài nước và toàn dân ta cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”
Nghị Quyết 36 lên án “Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”. Đoạn này Cộng sản Việt Nam ám chỉ những hoạt động chống cộng của Người Việt Hải Ngoại, như cuộc xuống đường dẹp cờ máu và ảnh của HCM qua vụ Trần Trường, và các cuộc biểu tình chống tuyên vận, chống các phái đoàn Cộng sản từ quốc nội ra ngoại quốc khuyến mãi đầu tư, bán tài nguyên đất nước hoặc xin viện trợ vân vân... Đặc biệt là chiến dịch cờ vàng ba sọc đỏ, NVHN đã vận động và được các thành phố và tiểu bang Hoa Kỳ công nhận. Cho đến nay (tháng 5-2004) đã có 3 tiểu bang công nhận cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng chính thức của Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ (Louisiana, Virginia và Colorado).
Cộng Đồng Người Việt Tỵ nạn cũng vận động xây Đài tưởng niệm chiến sĩ Việt-Mỹ tại Thủ đô Tỵ Nạn Little Saigon, vinh danh những người đã hy sinh để bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam trước 1975. Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã cực lực phản đối chính quyền Hoa Kỳ tại Westminster và Garden Grove ở Nam California, thậm chí dùng nhiều thủ đoạn ngầm để ngăn chặn công việc xây dựng, nhưng Cộng sản Việt Nam đã thất bại. Tượng Đài đã được khánh thành vào tháng 4-2003.
Thất bại thảm hại nhất của Cộng sản Việt Nam đối với Cộng Đồng Người Việt hải ngoại xảy ra vào ngày thứ Sáu 23 tháng 4-2004 khi dự tính chính thức viếng thăm khu Little Saigon là nơi có Cộng Đồng Người Việt lớn nhất tại Hoa Kỳ của phái đoàn cao cấp của Cộng sản Việt Nam bị Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ bác bỏ. Phái đoàn Hà Nội gồm 6 người, do Nguyễn Phúc Thanh, phó chủ tịch Quốc Hội Cộng sản, kiêm chủ tịch Ủy ban đối ngoại của Quốc Hội, dẫn đầu, dự tính thực hiện kế hoạch viếng thăm “nhằm bày tỏ thiện chí cải thiện quan hệ với Việt kiều, những người trốn chạy để tị nạn hay di dân”. Chương trình thăm viếng chính thức được hoạch định là đoàn xe có cảnh sát Hoa Kỳ hộ tống, ghé vào khu Little Sài Gòn và thăm Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Nhưng người Việt tị nạn trong vùng Little Saigon nói là những người khách này sẽ không được đón tiếp. Cộng Đồng Người Việt chuẩn bị một cuộc biểu dương dọc theo phố Bolsa với rừng cờ vàng ba sọc đỏ và kế hoạch ném trứng thối để đón đoàn xe chở phái đoàn Quốc Hội Cộng sản Việt Nam. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho hay Hà Nội yêu cầu cho khởi sự cuộc viếng thăm vào thứ Năm 29-4 và kết thúc ngày 30-4 gây thêm phẫn nộ nơi Người Việt tị nạn. Cảnh sát Los Angeles và Orange County nhắc lại vụ Trần Trường kéo dài 53 ngày đêm và tuyên bố không thể bảo đảm an ninh cho phái đoàn khi họ vào khu Little Saigon của Người Việt tị nạn. Nhân việc này, hai thành phố Garden Grove và Westminster đã dự thảo một nghị quyết “không chấp nhận các viên chức chính quyền Cộng sản Việt Nam được tiếp đón tại thành phố tị nạn”. Dự thảo mang số RES 3835 sẽ được biểu quyết vào tháng 5-2004. Nghị viên Andy Quách nói: “Họ lên đất chúng tôi, và chúng tôi chỉ muốn gửi họ thông điệp rõ ràng rằng không ai muốn họ tới đây”.
Cho đến năm 2004, có hơn một triệu người Việt tị nạn định cư tại Hoa Kỳ với tư cách “thường trú nhân” [permanent resident], hoặc công dân Hoa Kỳ và hơn một triệu rưỡi người trên toàn thế giới (Âu Châu, Á Châu và Úc Châu) tại trên 70 quốc gia theo chế độ dân chủ tự do, và gần hai ngàn người đang sống phập phồng tại Phi Luật Tân vì chỉ được hưởng quy chế tạm trú vĩnh viễn, họ đang chờ các quốc gia thứ ba đến cứu vớt, cho họ được định cư với tư cách tị nạn. (Theo cuộc Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000 thì số người Việt tại Hoa Kỳ là 1,200.000. Theo ghi nhận của hãng thông tấn AP (May,
2004) thì hiện nay, tại Hoa Kỳ, người gốc Hoa vẫn là nhóm Á Châu đông nhất với 2,4 triệu người, tiếp theo là người gốc Ấn với 1,7 triệu, đến người gốc Việt với 1,1 triệu. Với người Mỹ gốc Việt, California là nơi tập trung đông nhất, đặc biệt là các khu Little Saigon, Fountain Valley và Santa Ana. Little Saigon ở Nam California đã hình thành một Cộng Đồng Người Việt không Cộng sản lớn nhất trên thế giới, và đây cũng là nơi lớn nhất mà hai thành phố Hoa Kỳ đưa ra dự thảo nghị quyết không chấp nhận bất cứ sự hiện diện nào của các phái đoàn đại diện cho Hà Nội. – Báo Thời Luận, ngày 7-5-2004).
Cộng đồng Việt Nam tị nạn tại hải ngoại đã không ngừng phát triển và lớn mạnh về mọi mặt: học vấn, khoa học kỹ thuật, kinh tế và chính trị dòng chính (mainstream).
Dự thảo nghị quyết RES 3835 “Communist-Free Zone” (Vùng cấm Cộng sản) là câu trả lời quyết liệt đối với tham vọng của Cộng sản Việt Nam trong Nghị quyết 36.
Đảng Cộng sản Việt Nam Hãy Thức Dậy Đừng Nằm Mơ Nữa!
Chính sách “đại đoàn kết dân tộc” của Đảng và nhà Nước Cộng sản là gì? Là bắt giam các linh mục, các Hòa Thượng, tu sĩ và tăng sĩ, là đàn áp Phật Giáo Hòa Hảo, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, bao vây chùa chiền ở Huế, là đàn áp dã man đồng bào Tây Nguyên theo đạo Tin Lành, là kết án và giam cầm Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, hại độc linh mục Nguyễn Văn Lý trong tù, là đàn áp khốc liệt giới làm báo và những người phân phát các thông điệp qua e-mail...! Sao Đảng không đoàn kết với những đảng viên trí thức và trẻ tuổi đang lên tiếng đòi tự do, dân chủ cho 76 triệu dân trong nước trước rồi với tay ra nước ngoài. Đảng nên biết rằng chiêu bài “Đại đoàn kết dân tộc” ngày nay không còn lừa được ai nữa, nhất là đối với Người Việt ở những quốc gia tự do, vậy thì dối nữa để mà chi? “Vì có dối cũng không lừa được nữa”!
NQ36 lên án người Việt nước ngoài mang thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng tình hình đất nước, đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước: “Một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm đất nước để tận mắt thấy được những thành tựu của công cuộc đổi mới hoặc do thành kiến, mặc cảm, nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Một số ít người đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước, phá hoại mối quan hệ hợp tác giữa nước sở tại với Việt Nam”. (Bộ chính trị đã quy kết các tổ chức chống cộng, đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam là “đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước”. Đây là một gán ghép có mục đích chạy trốn thực tế: Người Việt hải ngoại không bao giờ chống lại đất nước hoặc không thương yêu dân tộc, bằng chứng là họ đã gửi về cho thân nhân hằng năm hơn 3 tỷ đô la Mỹ tiền mặt và quyên góp cứu trợ thiên tai, bệnh tật... hàng trăm triệu đô la khác. Người Việt hải ngoại chỉ chống tập đoàn Cộng sản đang thống trị đất nước một cách độc tài và ngu xuẩn. Người Việt bỏ nước ra đi từ sau 30-4-1975 không phải là “trốn chạy tổ quốc” như một nhà văn “viết mướn ăn tiền” của trung tâm W. Joiner đã nói, mà là trốn chạy chế độ Cộng sản phi nhân.
NQ 36 nói đến: Thành tựu to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội và không ngừng nâng cao vị thế quốc tế của đất nước... Phải chăng đây là những khách sạn cao tầng sang trọng, những nhà hàng, những khu ăn chơi với hàng trăm thứ “ôm” (từ bia, cà phê... đến tắm...) để du khách ngoại quốc đến hưởng thụ và để nhà nước tiến hành kỹ nghệ “Sex-Tourism”, mặc cho xã hội băng hoại, dân tộc nhục nhằn! Vị thế quốc tế của Việt Nam Cộng sản đã không ngừng nâng cao trên các nấc thang “vi phạm nhân quyền, tham nhũng, bán phụ nữ qua Đài Loan, bán bé gái 8 đến 15 tuổi qua Căm-Bốt làm điếm, về đàn áp báo chí”, Việt Nam được tổ chức Freedom House xếp hạng thứ 179, đồng hạng với Lào và Rwanda, nghĩa là gần đứng nhất thế giới chỉ kém Cuba và Bắc Hàn. (Theo “Freedom of the Press 2004: A Global Survey of Media Independence” nhân ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng 5-2004). Một thành tựu to lớn nữa của Cộng sản Việt Nam hiện nay là “Xuất khẩu Lao động” với giá rẻ nhất thế giới, bảo đảm công nhân Việt Nam xuất khẩu sẽ làm việc như nô lệ của thế kỷ 17. (Nguyễn Văn Huy, báo Thông Luận, tháng 2-2004: “Xuất Khẩu Lao Động”).
Nguyễn-Châu