
NHÂN MÙA VU LAN
Tìm Hiểu Đạo Nghiệp Của Đức Mục Kiền Liên
Nguyễn-Châu
Mục Kiền Liên là một trong mười đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Gọi là đại đệ tử là vì thuở Phật Thích Ca còn tại thế, hầu hết các học trò theo ngài tu học đều chứng quả A-La-Hán như kinh thường nhắc đến 1,250 vị Tỳ kheo (thiên, nhị bách, ngũ thập), trong đó có 10 vị được gọi là đại đệ tử và liệt vào hàng Thánh Chúng do sự ưu tú về mặt đạo hạnh, về sở trường và sở chứng.
Lịch sử Phật Giáo ghi nhận như sau:
1.- Xá Lợi Phất - Trí Tuệ đệ nhất
2.- Mục Kiền Liên -Thần Thông đệ nhất
3.- Phú Lâu Na -Thuyết Pháp đệ nhất
4.- Tu Bồ Đề - Giải Không đệ nhất
5.- Ca Chiên Diên - Luận Nghị đệ nhất
6.- Đại Ca Diếp - Đầu Đà đệ nhất
7.- A Na Luật - Thiên Nhãn đệ nhất
8.- Ưu Bà Ly - Trì Giới đệ nhất
9.- A Nan Đà - Đa Văn đệ nhất
10.-La Hầu La - Mật Hạnh đệ nhất
Mục Kiền Liên là người số 2 trong 10 thánh chúng luôn luôn cùng với Xá Lợi Phất đi theo làm trợ huấn cho Phật trên đường giáo hóa quần sanh. Hai vị này cũng nhiều lần thay Phật đi truyền đạọ
Sở trường và sở chứng của Xá Lợi Phất là Trí Tuệ, nghĩa là khả năng thấy, biết, lãnh hội nhanh chóng, còn Mục Kiền Liên thì có sở trường dứt sạch các phiền não trong thời gian bẩy ngày, để đạt mức Thần thông số 1.
Theo thầy Thích Minh Tuệ trong sách “Phật và Thánh Chúng” (Sài gòn - 1989), thì “Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ số một, đứng đầu hàng Thánh Chúng, nhưng nghị lực dứt kiệt sử không nhanh bằng Mục Kiền Liên. Với các lậu (1) hoặc trong thời gian 7 ngày, Mục Kiền Liên đã dứt sạch và có thần thông số 1.”
MỤC KIỀN LIÊN VÀ PHÉP THẦN THÔNG
A/- THẦN THÔNG LÀ GÌ?
“Thần” là phần vô hình trong sinh hoạt của con người, không hoàn toàn tùy thuộc vào thế giới vật chất hữu hình. Thần là sự biến hóa mầu nhiệm có tính cách siêu nhiên, người thường không thể lường trước được.
Tất cả những gì biến hóa một cách nhanh chóng và ngoài khả năng bình thường của con người đều được xem là thuộc giới thần thánh. Đặc điểm chính của “thần” là “linh và thiêng”, nghĩa là xẩy ra ngoài sự tưởng tượng của con người(supernatural power).
“Thông” là không bị nghẽn, không bị chặn lại (thông cổ, thông đường), thông là xuyên qua được, nghĩa bóng: Thông là hiểu được một cách rốt ráo, tường tận; thông còn có nghĩa là chuyển từ một nơi này đến nơi khác.
“Thần thông”: là hành động phi thường mà các bậc tu hành đã đắc thủ được sau thời gian tu luyện.
Trong Phật giáo có sáu phép thần thông gọi là “Lục Thần Thông hay Lục Thông”:
1.- Thần Túc Thông: có thể dùng ý nghĩ của mình mà di chuyển thân xác đi chỗ này hay chỗ khác một cách tự tại, nhanh chóng, không cần đến sức lực của thể xác.
2.- Thiên Nhãn Thông: thấy xa hay thấy gần không bị ngăn cách bởi sự vật chướng ngại.
3.-Thiên Nhĩ Thông: nghe thấy được mọi thanh âm, tiếng nói khắp nơi, không kể xa hay gần.
4.-Tha Tâm Thông: thông suốt được những ý nghĩ thầm kín trong lòng người khác khi họ bắt đầu suy nghĩ (khởi niệm).
5.-Túc Mệnh Thông: nhìn thấy hết tiền thân, tiền kiếp của chính mình cũng như của kẻ khác.
6.-Lậu Tận Thông: thấu suốt và vượt qua mọi phiền não và dứt được các nghiệp, và chứng quả Giải thoát.
Về Tu luyện để đạt phép Thần Thông, theo Phật Giáo, có hai cách:
1- Đắc thủ được nhờ báo thân tự nhiều kiếp trươc mà thành tựu, tự dưng cảm nhận mình có thần thông, trường hợp này cũng giống như chư Thiên (Thiên thần) có đủ Năm bậc từ một đến năm. Quỷ cũng có thần thông như chư thiên nhưng có phần yếu hơn về một số mặt. Đây là loại “Báo Đắc Thông”.
2- Loại thứ hai là Tu Đắc Thông, nghĩa là do tu luyện mà có, như các vị A-La-Hán nhờ tu Giới, Định, Tuệ, mà đắc sáu phép.
Các vị tu tiên, tu ngoại giáo theo cách tham thiền nhập định cũng có thể đắc thủ năm phép thần thông ở một mức độ nào đó.
Sách ghi Mục Kiền Liên là vị Thần Thông Số 1. Ông đã sử dụng phép thần thông trong mọi tình huống, kể cả khi đi truyền đạo với mục đích chinh phục sự tin theo của con người. Mục Kiền Liên cũng đã dùng phép thần thông để khuất phục và có khi khống chế người. Đức Phật đã quở trách, nhưng Mục Kiền Liên vẫn đem thần thông làm phương tiện.
Chính ông đã nhờ thần thông mà cứu được gia đình giòng họ Thích Ca tại thành Ca Tỳ La Vệ khi bị quân Tỳ Lưu Ni vây hãm.
Trên đường truyền đạo, Mục Kiền Liên đã ỷ lại nhiều vào phép thần thông cho nên cũng đã gây ra nhiều oán giận trong quần chúng.
B/- THẦN THÔNG VÀ ĐẠO GIẢI THOÁT
Có phép thần thông biến hóa thì dễ chinh phục được đức tin của con người về những điều mình thuyết giảng, nhưng Đạo giải thoát của Phật không phải là thần thông. Vì thần thông không có khả năng giai trừ nghiệp lực mà con người đã tạo ra.
Thật vậy, chính Mục Kiền Liên đã không thể cứu mẹ Đang bị đọa Địa ngục bằng Đệ Nhất Thần Thông của ông. Và ngay chính bản thân của Mục Kiền Liên đã không thể nhờ thần thông để thắng vượt nghịệp báo tại thành Thất La Phiệt, nơi ông đến truyền giáo thay Phật.
Tại đây, Mục Kiền Liên đã dùng thần thông để lấn lướt các giáo sĩ ngoại đạo, khiến cho chúng oán hận và tìm địp bức hại ông.
Mục Kiền Liên đã bị phục tại núi Y Tư Xa Lê, ngoại thành Thất La Phiệt trên đường đến truyền giáo cùng với hai đệ tử là Mã Túc và Mãn Túc. Bọn ngoại đạo la hình đã bao vây và bất ngờ ném đá xuống như mưa. Phép thần thông không khai triển kịp để đối phó, ông đã tử thương.
Sách kể lại: sau khi, bị bọn la hình đánh trọng thương, được Xá Lợi Phất lấy cà sa làm võng đưa về tịnh xá, đại chúng hỏi Mục Kiền Liên: “Tôn giả là bậc thần thông, sao lại chịu thua thiệt đến thế?”
Mục Kiền Liên đáp: “Vì bất ngờ, hơn nữa, khi nghiệp lực đến, chỉ một chữ Thần còn chưa phát được, huống là chữ Thông”. Dứt lời, Mục Kiền Liên nhập diệt.
C/- GIÁ TRỊ CỦA THẦN THÔNG
Phép thần thông chỉ có giá trị đích thực khi giúp người tu hành nhìn thấy xuyên suốt không gian vô biên và thời gian vô tận, để nhận thức rõ mọi sự kiện, mọi vấn đề nội tại trong lòng người cũng như bên ngoàị. Đạo Phật không nặng về luyện phép thần thông.
Câu chuyện dụ ngôn sau đây nói lên quan điểm này.
Chuyện kể rằng: Một hôm, có vị đạo sĩ Bà La Môn đang trổ tài về thần thông trên một bờ sông nọ, cho quần chúng xem. Nhìn thấy Phật từ xa đi đến, đạo sĩ càng biểu diễn thêm nhiều trò rất kỳ diệu với mục đích khoe khoang. Phật hỏi vị đạo sĩ: “Ông phải tu luyện bao lâu mới có phép thần thông và đã chứng được quả vị gì?”
Đạo sĩ đáp: “Tôi đã tu luyện trên ba mươi năm. Khi đạt được thần thông, có thể bay đi tự tại và qua sông không cần đò.”
Phật nói: "Nếu phải mất một nửa đời người, phải tu luyện để bay qua dòng sông, thì thật quá đắt, vì chỉ cần mấy đồng xu qua đò là có thể sang sông."
Kết luận
Cái chết của Mục Kiền Liên là một trường hợp “sinh nghề tử nghiệp” : Suốt giai đoạn hành đạo, ông đã dùng thần thông làm phương tiện. Cũng vì thần thông mà Mục Kiền Liên bị ngoại đạo oán thù và ganh tị. Bản thân Mục Kiền Liên đã ỷ vào phương tiện mình có cho nên gây nhiều oán thù, và khi nghiệp lực dấy lên thì khó mà cản trở được. Chính Mục Kiền Liên đã không cứu được Mẹ vì nghiệp chướng của bà Thanh Đề quá sâu dày, cần có sự đồng tâm chú nguyện của mười phương tăng chúng.
Vậy thì, phải nhận thức rằng, phép thần thông không phải là một năng lực vạn năng. Người tu hành không được lầm cứu cánh với phương tiện. Sư lẫn lộn này sẽ làm cho việc tu trì bị trở ngạị Tu mà nghĩ đến việc đắc đạo ngay, để có phép thần thông bay đi khắp chốn, để có thiên nhãn, thiên nhĩ mà nhìn và nghe xa ngàn dặm, thì đúng là TU THEO VỌNG NGHIỆP, rất nguy hại cho đời.
Tâm Nguyên NGUYỄN CHÂU
(1) Các “Lậu”: đây là thuật ngữ Phật Giáo, trong phần nói về Chánh Tri Kiến (thấy, biết chân chính) có nhắc đến “Vô Lậu Hành Quán” tức là mười sáu hành quán do từ hành tướng của “Tứ Diệu Đế” mà ra (mỗi Đế có bốn hành tướng) và trong Chánh Tư Duy thì có Vô Lậu Tri. Vô lậu hành quán: là phương pháp tu trì dứt bỏ Phiền não, để nhận thức đúng bản chất của sự vật. Vô Lậu Tri là trí thanh tịnh không bị nhiễm phiền não, không có vọng niệm, là cách tu trì để chứng sự thật của cuộc đời, thoát khỏi mê mờ, say đắm. Ngoài ra, còn có “Hữu Lậu” là con đường đầy phiền não làm con người vướng mắc không thể nhìn đúng chân lý rồi bám vào giả tướng thế gian mà đau khổ. Nghĩa đen của chữ “Lậu“ là rò rỉ từ bên trong ra ngoài, làm lộ ra, làm hoen mờ, là con đường nhỏ hẹp.
Nguyễn Châu