Ca Dao Việt Nam Về Tình Yêu
Nguyễn-Châu
Ca dao là một thể loại thi ca độc đáo
của dân tộc Việt Nam. Độc đáo bởi vì ca dao là những câu thơ, những bài thơ, những vần thơ... đủ các lối gieo vần từ nói lối 4 chữ qua những câu 5 rồi 6, 7. 8 chữ... Thể thông dụng nhất là lục bát tức câu saú rồi câu tám... Tứ thơ và ý tình trong ca dao rất hồn nhiên chất phác. Có lẽ vì đây là những cung bậc âm vang từ những rung động của các tâm hồn người bình dân Việt Nam trong cuộc lao động sản xuất và trong nhịp sống-cùng và sống-với những người cùng chung một ước mộng. Từ cảnh sinh tình rồi nhu cầu biểu lộ tình cảm thúc đẩy con người phải nói lên những gì đang xôn xao, rạo rực trong tâm hồn, trong ý thức...
Một người cảm xúc thốt lên vài câu có âm điệu và ý nghĩa... sau đó nhiều người họa theo... thế là ca dao hình thành và truyền tụng trên cánh đồng, trên sông nước, đưới ánh trăng trong thôn làng, bên nôi ru con... và phong phú hơn trong những dịp hội hè, đình đám.. khi từng đoàn trai gái gặp gỡ nhau, nhìn ngắm và tán tỉnh nhau bằng những câu đối đáp có vần điệu, tình tứ...
Ca dao Việt Nam nói về rất nhiều đề tài liên quan đến đời sống từ vật chất hằng ngày đến đời sống tâm linh. Trong bài này chúng tôi chỉ xin nói đến phạm vi tình yêu.
Tình yêu mà chúng tôi đề cập ở đây bao gồm hầu hết những rung cảm của trái tim, của tâm thức con người trước thiên nhiên, vũ trụ, cuộc đời và con người.
Về tình người, dĩ nhiên tình yêu nam nữ sẽ là đề tài phong phú nhất. Bài chủ đề chỉ có tính cách gợi ý, do đó chúng tôi chỉ xin trích dẫn một số câu có tính cách tiêu biểu trong kho tàng hàng ngàn câu của thi ca bình dân mà thôi.
- TÌNH QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC
Trước hết là tình cảm đối với quê hương đất nước. Người bình dân Việt Nam rất gắn bó với quê nhà, luôn luôn thấy có cái gì đó vượt lên những cao sang xứ lạ quê người:
"Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn."
Tình yêu quê hương đất nước thường thể hiện rõ trong những lúc tổ quốc lâm nguy. Người trai đã dặn dò vợ lo phụng dưỡng mẹ, nuôi con... để mình yên lòng đi lo việc nước, trấn giữ biên cương:
"Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng."
Và nàng dặn lại:
- "Anh đi, anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương..."
Tình yêu quê hương đã gây nhiều cảm xúc khi người ta mô tả phong cảnh một vùng:
- "Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh..."
Những địa danh được nhắc nhở khi nói về quê hương rất thắm thiết:
- "Thuyền ngược hay là thuyền xuôi
Thuyền về Nam Định cho tôi ghé nhờ."
- "Ai về cầu Ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui."
- "Ai lên Phố Cát Đại Đồng
Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa?"
- "Nhà Bè nước chẩy chia hai,
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về..."
- "Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang..."
- "Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ."...
Tình quê hương đậm đà đến nỗi người ta không thể vì cảnh phồn hoa đô hội mà quên được:
"Đồn rằng Hà Nội vui thay
Rủ nhau bớt bận mấy ngày đi chơi.
Vui thì vui thật là vui,
Nhưng mà cũng chẳng bằng nơi quê nhà."
“Quê” và “nhà” là hai từ ngữ thường có âm vang trầm ấm trong tâm tư, tình cảm con người, cho nên phần đông chúng ta, lúc nào cũng muốn được “trở về dưới mái nhà của riêng mình”, dù đó chỉ chỉ là một mái tranh nghèo, không bằng những ngôi nhà hay dinh thự nguy nga của người khác:
- "Nhỏ to ta ở nhà ta
Còn hơn đi ở nguy nga nhà người !"
TÌNH YÊU ĐỒNG LOẠI & SỰ THÔNG CẢM
Từ tình yêu quê hương, ca dao Việt Nam cũng nói đến tình thương đồng loại:
- "Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng..."
- " Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn!"
- "Trăm năm ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu thành gấm, sắt mài nên kim."
Và cảm thông với những nỗi bất hạnh trong cuộc đời, của tha nhân:
- "Thóc bồ thương kẻ ăn đong,
Vắng chồng, thương kẻ nằm không một mình."
- “Mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.”
- “Đàn bà như cánh hoa tươi
Nở ra chỉ được một thời mà thôi.”
- “Làm người có miệng có môi,
Khi buồn thì khóc, khi vui thời cười.”
- “Người đời ai khỏi gian nan,
Gian nan có thuở, thanh nhàn có khi.”
- “Thứ nhất thì mồ côi cha,
Thứ nhì gánh vã, thứ ba buôn thuyền.”
- “Thứ nhất vợ dại trong nhà,
Thứ hai nhà dột, thứ ba nợ đòi.”
TÌNH YÊU NAM NỮ
Đây là đề tài phong phú nhất. Đã có rất nhiều câu và bài ca dao nói về tất cả những cung bậc ân tình từ buổi đầu gặp gỡ, làm quen... qua thương thầm, nhớ trộm, rồi ước mơ... cho đến khi biết hiểu nhau, ý hợp tâm đầu, cùng nhau hướng đến mộng lứa đôi...
Buổi đầu gặp gỡ, mở lời ướm hỏi:
- "Thuyền ai trôi trước,
Cho ta lướt tới cùng
Chiều đã về, trời đất mông lung,
Phải duyên thì xích lại cho đỡ não nùng đêm sương..."
hoặc là:
- "Anh về đường ấy mấy đò?
Mấy cầu, mấy quán... em cho mượn tiền.
Ước gì quan bắc đường liền
Để anh đi lại khỏi phiền đò giang."
Trên ruộng đồng cùng làm việc chung với nhau thì có khi ngỏ lời trực tiếp một cách bạo dạn, như:
- "Cô kia cắt cỏ một mình,
Cho tôi cắt với chung tình làm đôi.
Cô còn cắt nữa hay thôi?
Cho tôi cắt với làm đôi vợ chồng."
Nhưng thường thì các cô rất nhát và e-lệ nên nhiều chàng phải kiếm cớ một cách ngộ nghĩnh mới giữ nàng dừng chân lại nghe mình nói. Đó là trường hợp bài ca dao nổi tiếng thường mang nhan đề "Tát nước đầu đình".
Anh chàng đã mở đầu rằng:
- "Hôm qua tát nước đầu đình..."
Có lẽ thấy cô gái toan bỏ đi với ý nghĩ "Thì can gì đến tôi?" cho nên anh ta nói ngay một câu vô duyên, một điều vô lý:
"Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen."
Cô gái nghe thấy vô lý, vì “sen làm gì mà có cành”, hình như sắp mở lời chê là "đồ khờ," thì anh chàng đã ràng buộc ngay:
"Em được thì cho anh xin..."
rồi tiếp luôn một mạch làm cho cô gái không thể nào bỏ đi, phải đứng lại nghe. Anh ta lợi dụng chiếc áo để mô tả thân phận và gia cảnh của mình, đồng thời ngỏ muốn lời tặng cô gái những phẩm vật thông thường của một lễ cưới... Thử tưởng tượng, khi nghe câu "Em được thì cho anh xin". Chắc cô gái giận lắm, vì cái áo anh thì có đáng giá bao nhiêu mà nghi người ta lấy!... Nhưng nàng chưa kịp mở lời thì anh ta đã nói tiếp về cái áo một cách ranh mãnh:
- "Hay là... em để làm tin trong nhà?"
"Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu.
Áo anh sứt chỉ đã lâu
Mai mượn cô ấy vào khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Mai mốt có chồng anh sẽ giúp cho...
Giúp em đôi thúng xôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm.
Giúp em đôi chiếu em nằm
Đôi chăn em đắp, đôi tằm em đeo.
Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưói lại đèo buồng cau...."
MƠ ƯỚC...
Sau giai đoạn gặp gỡ, thăm hỏi, ướm lời, là thời gian mơ ước, nhớ nhung...
Nàng thì mơ một người bạn đồng lao cộng tác:
- "Một mình vừa chống vừa chèo,
Không ai tát nước đỡ lèo cho em!"
Hoặc ước ao tha thiết:
- "Chim bay cá lội tung tăng
Bao giờ đèn hiệp với trăng một nhà?"
Rồi nhớ mong vu vơ:
"Mong người chẳng thấy người sang
Ngày ngày ra đứng cổng làng ngóng trông
Con đường xa tít bên sông
Bóng chiều đã xế mà không thấy người!"
Ước mơ có đôi bạn nhiều khi làm cho các cô phải mở lời trực tiếp mời gọi:
- "Làng tôi gần chợ gần sông
Nhiều cô con gái kén chồng xinh tươi
Hỡi anh trai trẻ kia ơi,
Có vào làm rể làng tôi thì làm."
Các chàng thì ước mơ lãng mạn và tha thiết hơn. Nào là:
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng...
Anh đi xứ Bắc mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngang
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân..."
Nào là:
“Ước gì anh hóa ra dưa
Để em đem rửa nước mưa chậu đồng
Ước gì em hóa ra hồng
Để cho em bế em bồng trên tay."
Thời gian ước mơ cũng là giai đoạn nhiều bất an nhất cho những tâm hồn bắt đầu vào ngưỡng cửa yêu thương, vì làm sao biết được trong lòng người mà mình đang mơ ước?
- "Ta yêu mình lắm mình ơi!
Yêu mình tính nết con người giống ta
Yêu mình như thể yêu hoa
Biết rằng mình có yêu ta chăng mình?"
Yêu là đi vào vùng bất an của tâm hồn vì "mấy khi yêu mà chắc được yêu?" cho nên xao xuyến lo âu gần như là nỗi niềm thường trực...
- "Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non nặng gánh chung tình
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?"
-"Đêm qua vằng vặc trăng rằm,
Thấy anh qua cửa, em nằm không yên!"
-"Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than!"
- "Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?"
Từ ước mơ qua nhung nhớ, lo âu, đến tâm trạng cô đơn: nhiều người đã cảm thấy xót xa cho thân phận lẻ loi cô quạnh của mình:
- "Con cuốc kêu réo rắt trên ngàn
Gà rừng xao xác gọi con tha mồi
Lạnh lùng thay! láng giềng ôi!
Láng giềng lạnh ít sao tôi lạnh nhiều!"
Rồi nhớ nhung, mơ tưởng cứ tăng dần theo niềm thao thức tình duyên:
- "Một duyên, hai nợ, ba tình
Chiêm bao lẩn khuất bên mình năm canh.
Nằm một mình, lại nghĩ một mình
Ngọn đèn khêu tỏ, bóng huỳnh bay cao.
Trông ra nào thấy đâu nào
Đám mây vơ vẩn, ngôi sao mập mờ...”
Sự thao thức đã đưa người con gái về với những hồi niệm buổi tình cờ gặp gỡ mà duyên tình chưa biết về đâu, nàng đã bộc lộ tâm sự một cách chân thành:
- "Tối qua trăng sáng tờ mờ,
Em đi gánh nước tình cờ gặp anh.
Vào vườn hái quả cau xanh,
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu.
Trầu này têm những vôi tầu,
Giữa đệm cát cánh, đôi đầu quế cay.
Mời anh xơi miếng trầu này,
Dù mặn, dù nhạt, dù cay, dù nồng...
Dù chăng nên vợ nên chồng,
Xơi dăm ba miếng cho lòng nhớ thương."
Thật đúng như Pascal (triết gia Pháp) đã ghi nhận: "Con tim có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không thể nào hiểu được" (Le coeur a sa raison que la raison ne connait pas), vì trái tim rung động thúc đẩy, mà người con gái Việt Nam ở nông thôn, đã vượt qua sự e dè, thẹn thùng cố hữu cùng một vài quy ước của phong tục tập quán, để nói lên những gì đang chất chứa trong tâm tư mình một cách không dấu diếm... Nói ra những điều ước mơ là một cách thế giải tỏa tâm tư tìm cảm, nói lên vì không thể lặm im trong ray rứt nhớ thương! Về mặt này, các chàng thường hăm hở và da diết hơn:
- "Bữa ăn có cá cùng canh,
Anh chưa mát dạ bằng anh thấy nàng."
Và khi được thấy, được gặp nhau thì hương vị ngọt ngào của yêu thương làm cho các chàng ngây ngất:
- "Cầm tay em như ăn bì nem, gỏi cuốn,
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon."
Nỗi vui mừng sung sướng khi có nhau, thì kể cả những vị thuốc quý nhất như Cao Ly sâm, Ngưu hoàng cũng không thể nào sánh đuợc:
- "Cao Ly sắc với Ngưu Hoàng
Uống không mát dạ bằng thiếp với chàng gặp nhau!"
Và người ta đã hình tượng hóa nỗi nhớ mong một cách ý nhị:
- "Thiếp trông chàng như nhang trông lửa,
Chàng mà trông thiếp như đại hạn trông mưa..."
Hình tượng “nhang chờ lửa và đại hạn trông mưa” đã nói lên một cách đầy đủ sự khát khao của những đôi vợ chồng phải xa cách nhau nhiều thời gian. Nàng mong chàng để tìm ngọn lửa ấm nồng, chàng mong nàng như vùng khô hạn chờ cơn mưa ngọt ngào, tưới mát...
HỨA HẸN VÀ TÂM NGUYỆN
Sau cuộc gặp gỡ, qua những ước mơ, nhớ nhung, chờ đợi... nếu may mắn được thành lương duyên với người mình thương tưởng thì thật là mừng vui:
- "Xưa kia ai biết ai đâu?
Bởi chưng ô thước bắc cầu sông Ngân!"
Vui mừng cho cuộc hạnh ngộ:
- "Bạn vàng lại gặp bạn vàng
Long lân quy phụng, một đoàn tứ linh!"
Và từ đây, niềm tin yêu làm cho người ta yên tâm đi tới hôn nhân:
- "Xa xuôi chi đó mà lầm,
Phải duyên duyên bén, phải trầm trầm thơm."
Trong hôn nhân, hai người thường quấn quít, gắn bó với nhau:
- "Hai ta như rắn liu điu (tức rắn nước)
Nước chảy mặc nước, ta đìu lấy nhau!"
Rồi cùng nguyện ước:
- "Trăm năm lòng tạc dạ ghi.
Nào ai thay nút đổi khuy, xin đừng!"
- "Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem lên nấu với mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng,
Gừng cay, muối mặn, xin đừng bỏ nhau!"
Và dặn dò nhau:
- "Khuyên ai giữ dạ cho bền,
Dầu ai đổi hướng xoay nền mặc ai."
- "Muối mặn ba năm hãy còn mặn,
Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay!
Điệu nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay.
Dẫu có làm nên danh vọng,
Dẫu có ăn mày, cũng theo nhau!"
Và hai người sẽ chân thành nguyện ước:
- "Theo nhau cho trọn đạo đời
Dẫu mà không chiếu, trải tơi mà nằm."
- "Đi mô cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo!"
- "Lên non cho thiếp lên theo,
Tay vịn, chân trèo, hái trái nuôi thân..."
Đó là tất cả những gì tha thiết chân thành mà ca dao Việt Nam đã diễn đạt.
*****
Trên đây là một số vần thơ trong thi ca bình dân Việt Nam nói đến tình yêu thương đích thực, nói một cách hồn nhiên nỗi lòng mình, không giấu giếm. Tình yêu đích thực phát xuất từ trái tim chân thành, trong sự khao khát tìm về một tha nhân (người khác mình) như là "một thành phần của bản thân mình" - tức là tìm về cái "nửa kia" đang mang một phần xương thịt của mình để kết hợp thành một khối bổ túc nhau trong trong cuộc đời. Nói theo huyền thoại Thiên Chúa giáo, thì đi tìm người nợ cái xương sườn, hay đi tìm chủ nợ...
Tình yêu thương đích thực thường được biểu lộ qua các hành động trân quý, nâng niu và lo lắng, chăm sóc cho đối tượng, lấy niềm vui, nỗi buồn của người thương làm của mình để chia sẻ, an ủi... Yêu ai là chịu trách nhiệm về niềm vui hay nỗi buồn của người đó... chứ không phải chỉ mong chiếm đoạt đối tượng để hưởng thụ, để thỏa mãn khuynh hướng chinh phục, để khoe khoang với xã hội như một chiến thắng trên tình trường.
Trong ý hướng đó, bài chủ đề "Ca dao Việt Nam về Tình Yêu" chúng tôi đã không đề cập đến phần ca dao nói về sự lọc lừa, gian dối, phản bội, bạc tình là nguyên nhân của những đau khổ trong đời sống hằng ngày.
Chúng tôi nghĩ rằng, nếu thực là tình yêu thì không kèm theo sự đau khổ chán chường, oán hận như nhiều thi sĩ, nhạc sĩ và thói thường đã mô tả. Tình yêu là sự dâng hiến và tự nguyện khi hai trái tim cùng chung nhịp đập, hai người cùng chung tần số rung cảm, hoặc nói theo người xưa là "hai tâm hồn đồng thanh khí" trong quy luật "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Khi đã cùng chung tần số rung cảm, thì tình yêu nảy sanh và khó ai thay thế được, cho nên tình yêu đích thực khởi duyên từ những rung động chân thành, thì sẽ không qua đoạn đường đau khổ của phản bội, của hững hờ...
Hình như những bài thơ khổ đau, những bản nhạc buồn và oán hận mà nhiều người nói là do tình yêu đem lại, thực ra đều là những tiếng kêu đau thương phát ra từ những cuộc chinh phục bất thành, vì bị đối tượng từ chối, những lần cho mà không được nhận, những tiếng gọi mà không nghe đáp, những lần gõ mà cửa không mở. Thi sĩ Xuân Diệu đã than thở:
“Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Cho thì nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ hay thờ ơ chẳng biết...”
hoặc:
“Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em kèm với một lá thư.
Em không nhận nên tình anh đã mất
Tình đã cho ai lấy lại bao giờ.”
Nỗi khổ đau nói trên thật sự không thuộc phạm trù của Tình Yêu Đích Thực. Có thi sĩ đã lý giải được nguyên ủy của nỗi đau này một cách rất xác đáng:
“Người ta khổ chỉ vì thương không phải chỗ,
Yêu sai duyên và mến chẳng nhằm người...”
Khổ đau này là do cho không đúng đối tượng... bắt không đúng “tần số”, không đáp ứng quy luật đồng cảm, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, không phải duyên... nên không thắm lại; bởi vì chỉ đến có một chiều, cho nên không có sự đáp ứng. Nhiều người đã dùng mọi thứ “áp lực” để ép đối tượng phải miễn cưỡng đáp lại sự khao khát chiếm hữu của mình, đây không thể gọi là tình yêu.
Các nhà nghiên cứu về tình yêu cho thấy rằng: khi một người nói tôi "thất tình," vì tôi yêu người ta, mà không được người ta đáp lại, nhiều người đã hiểu như thế là “thất tình”. Nhưng xét cho cùng thì đã có “tình” đâu mà "thất", chưa có thì lấy gì mà mất? Tình yêu đích thực luôn luôn có qua lại, hai chiều, cho và được nhận. Chỉ một chiều thì không thể gọi là tình yêu của thế gian. Ngoài ra, ngay cả khi chỉ có một chiều, nhưng nếu đó là tình cảm phát xuất từ trái tim yêu thương, thì tình yêu (không được đáp laị) ấy cũng không thể mất, nó sẽ thành Tình Yêu Dâng Hiến, một sự CHO không đòi hỏi NHẬN lại từ đối tượng yêu thương.
Từ hiểu không đúng về Tình yêu, nhiều người đã hiểu nhầm luôn hai chữ “TƯƠNG TƯ”. Thật vậy, nhiều người, có cơ duyên được gặp gỡ một đối tượng, được trao đổi một vài câu, chưa có dấu hiệu yêu đương “song phương” nào cả, nhưng khi về nhà liền nhớ nhung, thao thức và nói là đang “tương tư”. Sự thật thì là "độc tư" chứ không phải là "tương tư" đúng nghĩa. Tương tư đúng nghĩa là hai người cùng nghĩ đến nhau qua ngăn cách của không gian. Đúng như ý nghĩa và hình tượng của bài thơ Trung Hoa mà nhiều người Việt biết đến:
"Quân tại Tương giang đầu,
Thiếp tại Tương giang vĩ,
Tương tư bất tương kiến
Cộng ẩm Tưong giang thủy."
(Anh ở đầu sông Tương,
Em ở cuối sông Tương
Cùng nghĩ đến nhau mà không trông thấy nhau
Lại cùng uống nước sông Tương.)
Chữ "tương" có nghĩa là “cùng nhau”. Do đó nếu nhìn kỹ lại các bài thơ, bài ca dao, bài nhạc... nói về sự đau khổ vì tương tư, vì bị phản bội, vì bị lọc lừa vân vân, ta sẽ thấy là chúng hoàn toàn không ăn khớp với tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực luôn luôn có sự tự nguyện chân thành của nam nữ hai bên: hai người gặp gỡ và yêu thương nhau một cách nhanh chóng và hồn nhiên, có khi “như bị sét đánh” không thể trả lời câu hỏi tại sao yêu nhau? Không thể tìm thấy một cách chính xác vì nguyên nhân cụ thể nào? Thật khó cắt nghĩa được Tình Yêu bằng lý luận đơn giản của trần gian hay của khoa học. Khác với tình yêu "chiếm hữư" bắt đầu từ rung động một chiều, rồi xuyên qua quá trình chinh phục, tán tỉnh, quyến rũ bằng nhiều phương cách, nhiều phương tiện và đôi khi có cả thủ đoạn để ép buộc tinh thần hay vật chất nữa. Trong loại yêu đương này, có đạt đến đối tượng đi nữa, tình yêu vẫn là ép buộc do chiến thuật và cách quyến rũ, chứ không hoàn toàn do trái tim tự hiến dâng. Kết quả của những cuộc hôn nhân do "Nhất đẹp trai, nhì chai mặt" đều không phải là do hiến dâng của tình yêu đích thực, cho nên, qua thời gian nó biến hóa, và thường đưa đến thảm kịch gia đình, xã hội.
Tóm lại, sở dĩ phải đưa ra những điều trên đây là vì nhận thấy cần nói thêm cho rõ vấn đề, khi tìm hiểu ca dao về tình yêu, để thấy rõ bản chất của yêu thương đích thực, tránh sự hiểu lầm thông thường từng gây đau khổ cho cuộc sống tình cảm.
Chúng tôi dùng Chủ đề: "Ca dao về tình yêu" chứ không nói "Tình yêu trong ca dao", là vì sự thật thì Tình yêu không ở trong ca dao mà ca dao chỉ là phương tiện thi ca để diễn tả và nói về tình yêu trong lòng người.
Nguyễn-Châu