Sào Ruộng Hương Hỏa
Ông nội thằng Chi đi lính khố xanh. Trước Cách Mạng tháng tám, ông Huynh bỏ ngũ, về quê, làng Gia Trình, gom được một mớ tiền lương, ông mua năm sào ruộng
cạn. Ông Huynh không có bao nhiêu chữ, nhưng ông nói lắp bắp được tiếng Tây. Dù là tiếng bồi, thiên hạ làng Gia Trình cũng nể ông.
Sáu người con của ông Huynh ai cũng cao ráo như lúa tháng giêng. Chỉ có cha thằng Chi là èo uột. Người nhỏ nhắn, gầy còm. Bà nội thằng Chi kể lại: hồi nhỏ, bà đi coi thầy, nói cha Thằng Chi khó nuôi, phải bồng đi ăn xin mười hai chợ, may ra mới nuôi được nó. Thế là bà Huynh phải lận đận xách bị, cõng đứa con trai thứ năm đi ăn xin, mà ông thầy pháp đặt cho nó cái tên xấu xí để ma quỷ nó không dám vọc tới: ”thằng Cáng Vá”. Bà Huynh quên cả nắng mưa. Ở cái xứ mà mùa nắng, nắng như đổ lửa, mùa đông lạnh xé da, nứt môi, bà cõng thằng Cáng Vá trên vai lang thang qua mười hai cái chợ “ăn xin làm phép”, cầu phúc cho cậu “quý tử”. Cơ khổ biết chừng nào! Cái chợ thứ mười hai, bà tin sẽ đem lại cho con bà một tương lai tốt đẹp. Thật là mơ hồ. Nhưng tình yêu của mẹ dành cho con nó lớn như trời biển, bà Huynh vượt qua hết mọi thứ trở lực để đến cái chợ cuối cùng, cái chợ mang tên của vị hoàng hâụ thời vua Thiệu Trị. Hoàng hậu Hồ thị Hoa. Ngày ấy, chợ Đông Ba nằm phía cửa đông trong thành nội Huế, gọi là chợ Đông Hoa. Sau nầy chợ Đông Ba dời ra phía bờ sông Hương gần cầu Tràng Tiền cho tiện việc chuyển vận hàng hoá, mới có câu “Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại / Cầu Tràng Tiền lắp lại xi mon (ciment)/ Ôi người lỡ vận chồng con / Vô đây gá nghĩa vuông tròn có được không?"
Cuộc “hành hương” bất đắc dĩ của mẹ con bà Huynh đã để lại dấu ấn hằn sâu trong gia đình ông lính khố xanh. Từ đó thằng Cáng Vá trở thành cậu ấm cầu tự, được nuông chiều từ tấm áo cho đến miếng ăn. Bà Huynh gần như dành hết tình thương cho Cáng Vá. Đôi khi mấy đứa em nó cũng ganh tị. Lớn lên, Cáng Vá được học nhiều hơn mấy anh chị nó, không biết có phải nhờ hơi hám, phồn hậu của mươì hai cái chợ ấy hay không mà Cáng Vá thông minh hơn đám bạn bè trong lớp. Năm thi vào đệ thất (cấp một chuyển qua cấp hai), hồi ấy, khó lắm! Thế mà Cáng Vá đổ đầu trường làng Gia Trình, rồi phải lên phố Huế để học. Ông bà Huynh mong ước như thế cho con cái đổi đời, chứ quanh năm cày xới mấy sào ruộng cạn chẳng thấy dư dả chút nào.
Làng Gia Trình ở miệt miệt ngoài cửa Thuận An, ruộng vườn chẳng có bao nhiêu, đám thấp đám cao, quanh năm gió biển. Cái ăn, cái mặc cũng phải tằn tiện, vất vả lắm mới đủ cho con ăn học. Mỗi tuần, mấy chị thay phiên nhau mang gạọ mắm lên phố cho Cáng Vá suốt bốn năm học cấp hai. Đỗ kỳ thi Trung học đệ nhất cấp, Cáng Vá đậu luôn kỳ thi vào trường Quốc Học. Danh giá đấy chứ. Ở cái làng Gia Trình nầy, đếm trên đầu ngón tay mấy đứa được vào Quốc Học. Trong lòng bà Huynh thấy ấm lại, chẳng còn biết nhọc nhằn gì nữa. Bà hãnh diện khi nhớ đến những ngày cõng thằng Cáng Vá đi ăn xin cầu phúc. Bà mỉm cười một mình, đôi mắt long lanh nhìn về phía con đường chạy lên phố Huế… Ông Huynh thở phào nhẹ nhõm, dắt chiếc xe đòn vông ra sân rồi đạp thẳng lên Huế thăm thằng con Cáng Vá cho nó chút tiền tiêu vặt. Ông nói như tự hào: “Bây giờ Cáng Vá lớn khôn rồi đấy, nó biết tìm chỗ đi làm gia sư để có miếng cơm, chỗ ở đàng hoàng, ngửng mặt lên mà bước vào cổng trường Quốc Học”. Các cụ ngày xưa, khoa bảng, danh nhân, các nhà cách mạng… cũng xuất thân từ cái lò đào tạo trí thức nầy. Ai mà không ham.
Thời gian qua nhanh như những tia chớp mưa chiều. Ông bà nội thằng Chi đã qua đời ở cái tuổi đại thọ. Mấy mươi năm trong nghề dạy học, Cáng Vá cũng đã về hưu. Tưởng chừng như mới đó, mới đây, ông nội thằng Chi trước khi ra đi , đã để lại tờ di chúc như một tờ hịch cho sáu người con: "Cha có tám sào ruộng, chia cho mỗi đứa một sào. Hai sào còn lại là đất hương hoả để
thờ tự ông bà cha mẹ, cha giao cho thằng Sơ. Phải cho con cháu học hành tới nơi tới chốn. Phải lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mà sống với đời. Các con phải sống lương thiện và tự hào như cha."
Ra trường làm thầy giáo, con trai ba Sơ được bổ nhiệm về dạy ở trường cấp hai Gia Trình. Với chút ít vốn liếng tiếp thu ở trường sư phạm, giáo viên trẻ Trần Hải tin rằng mình có đủ kiến thức để trưởng thành. Thực ra, cái vốn tri thức của Trần Hải chỉ như hạt cát trong sa mạc. Những lúc cha con ngồi nói chuyện, ba Sơ cảm thấy lo lắng, nao nao trong lòng. Ông ta không thể nào yên tâm được, khi nghĩ đến cái di chúc của người cha. Ông cũng không đủ sức để mở mang kiến thức cho cho con mình hơn thế được. Nhưng nếu như nó thoả mãn với cái nghề làm thầy giáo và nó dừng lại ở đây thì có khác chi một con vẹt. Ba Sơ, suy nghĩ mình không thể đầu hàng, ông tìm ra cái nguyên nhân lớp trẻ ngày nay phần lớn thụ động và kiến thức bị hạn chế chỉ vì một lý do duy nhất: Họ không chịu đọc sách. Sách. Chỉ có sách mới có thể giúp cho con người ta mở mang kiến thức về mọi mặt. Ba Sơ tin chắc như thế. Nhưng biết làm thế nào đây để cho con ông chịu đọc và có nhiều loại sách để nó đọc? Ba bốn đêm rồi ông mất ngủ. Ông đem chuyện nầy ra bàn với Cáng Vá và mấy chú em trong ngày giỗ mẹ ông…
Câu chuyện “kiến thức và sách” trở thành đề tài bàn luận sôi nổi trong ngày giỗ bà nội thằng Chi, thằng Hải. Anh em nhà Cáng Vá đều có cái nhìn chung cuộc là hai sào ruộng hương hoa, chính là mấu chốt để giải cứu vấn đề kiến thức và sách cho con cháu nhà họ Trần. Hơn tháng sau, một tủ sách lớn với hàng trăm đầu sách đã được bày biện hoành tráng bên phía tả nhà thờ tự họ Trần làng Gia Trình . Bữa giỗ mẹ, trước bàn thờ tổ tiên, ba Sơ cúi đầu vái: “Xin ông bà tổ tiên, cha mẹ cho con bán bớt một sào ruộng hương hoả để sắm một tủ sách cho con cháu dọc, học hỏi mở mang kiến thức mà sống với đời thêm nhuần thiện."
Hoàng-Quy