Hoàng Minh Tường: Thời Của Thánh Thần (tiếp theo)
Chương 8
Không Toàn Thắng
Cuộc cải tạo tư sản đã thành công rực rỡ. Hà Nội vẫn có nhiều người nghèo, nhưng cũng không còn người giàu. Hàng vạn gia đình quá neo đơn, những vô sản thành thị với đúng nghĩa đen của nó, lũ lượt theo xe lên miền ngược khai hoang, xây dựng khu kinh tế mới. Cùng xung phong đi với họ là hàng ngàn trí thức trẻ Thủ đô, những cô tú, cậu cử, những thầy cô giáo mới vào nghề nhưng chưa tìm được việc làm.
Dân số Hà Nội ngày ấy chừng bốn mươi vạn người, càng trở nên phong quang, trầm mặc bởi những mái ngói thâm nâu, bởi chỉ còn những gam màu chủ đạo là màu xanh lam áo thợ, màu xanh rêu áo lính.
Cả Miền Bắc là một đại công trường xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản. Công trình đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải nghiêng trời đổ nước, thay chua rửa mặn, huy động hàng triệu lao động. Những điển hình gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba Nhất, trống Bắc Lý làm nức lòng người. Dẫu còn nghèo, còn gian khổ, nhưng hình như không có sự cách biệt. Ai cũng khổ như nhau, hoặc gần bằng nhau, tự khắc người ta sẽ nghĩ mình không khổ nữa. Sự ít cách biệt về vật chất lại được kiểm soát phong toả chặt chẽ về tinh thần; rà xiết, khuôn phép về mặt trật tự, kỷ cương; nên ít có cảnh bon chen, thớ lợ, sách nhiễu, cửa quyền, hối lộ, đĩ điếm, chộp giật. Thói đạo đức giả chưa có đất nảy nớ. Bữa ăn ở nông thôn độn ngô, khoai, thì ở thành thị cũng mười ba cân gạo hẩm độn ngô sắn. Nông thôn không tem phiếu thực phẩm, nhưng lại nuôi được gà, vịt, kiếm được con cua, mớ tép. Râu tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon. Bữa cơm gia đình công nhân viên chức chỉ bìa đậu phụ, bát rau muống luộc dầm sấu, đĩa trứng tráng mỏng tang với mấy quả cà, mà ai cũng xì xụp mãn nguyện.
Những năm đầu thập kỷ sáu mươi ấy, sau bao năm đói kém, binh lửa, có được những ngày hoà bình hiếm hoi, quả là thiên đường. Nhà thơ lớn Tố Hữu có câu thơ thần mở đầu thời kỳ này:
Chào sáu mốt đinh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
Trông lại ngàn xưa trông tới mai sau
Trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu…
Cái gia đình nhỏ của vợ chồng Vỹ ngày ấy, cũng là một thiên đường. Bé Trinh Mai thừa hưởng những nét duyên của mẹ, như đoá hoa nở sáng căn nhà. Khiêm đã trở thành cô giáo cấp một, được dạy ngay tại ngôi trường của mẹ ngày trước.
Còn Vỹ, ngoài việc sáng tác những bài diễn ca, truyện thơ cho Nhà xuất bản Bình Dân ký tên giám đốc Tiến Tới, ngoài việc viết những bài báo với bút danh Hữu Hiệu để lấy tiền cho vợ đi chợ, nuôi con, anh còn nhận thêm công việc dịch sách cho các nhà xuất bán. Có tiểu thuyết dịch chung với nhóm văn học Lê Quý Đôn, có những bài thơ của P. Valéry, Baudelaire, Puskin, Lécmôntốp… Có cả những tài liệu triết học của Nietzche, Jean-Paul Sartre, Camuy… Dường như đã quen với việc giấu mình đi, quên mình đi để ẩn dưới tên những người khác Vỹ viết và dịch như một người thợ kim hoàn khéo tay quen chế tác những đồ trang sức hàng chợ, như ông thợ mộc đóng những giường tủ bày bán ngoài cửa hiệu.
Chính thời kỳ này, Vỹ đã quen thân và trở thành đệ tử của nhà triết học Trần Đức. Đây là một học giả lớn, từng du học nhiều năm ở Paris, được cách mạng đưa về nước phụng sự kháng chiến. Giáo sư Trần bị quy kết cầm đầu nhóm Nhân văn Giai phẩm, bị điều về bộ phận tu thư, suốt ngày dịch các tài liệu do cấp trên yêu cầu. Gặp giáo sư Trần, Vỹ mới hiểu câu nói của Nietzche: "Để sống một mình phải là một con vật hay một thánh thần. Aristốt nói như vậy. Nhưng có trường hợp thứ ba nữa: Người ta phải vừa là thú vật vừa là thần thánh, đó là triết gia". Vỹ thấy mình nhiều khi cũng có khả năng sống đơn độc, như một triết gia. Có những đêm không ngủ, Vỹ len lén dém màn cho vợ con, ra ngồi một mình trước bàn, đốt thuốc, trầm ngâm hàng giờ. Những lúc ấy, Vỹ thấy mình bỗng thành một người khác, như bước hẳn ra khỏi cõi người. Hoàn toàn đơn độc, cô quạnh. Hình ảnh một Nguyễn Kỳ Viên tan hoang, một làng Động tiêu điều buồn tẻ, nghiêm ngặt như một trại lính, sớm chiều từng đoàn người lam lũ đứng túm tụm hàng giờ trước cổng đồng đợi ông đội trưởng, cô thư ký phân công công việc, rồi theo tiếng kẻng ra đồng, về nhà, uể oải, phờ phạc như những cỗ máy vô hồn, để đổi lấy dăm ba điểm, tương đương vài lạng thóc… luôn ẩn hiện trước mặt. Trong đoàn người ấy, Vỹ thấy u và cái Hậu đang lom khom trên đồng, tìm mót những củ khoai giun phớt hồng loăn xoăn bé như đầu ngón tay từ những nhánh mầm xanh nhợt còn sót từ tháng trước. Có lúc u lội xuống cánh đồng đã gặt, nước ngập ngang ngực, dùng liềm vớt những bông lúa non loi thoi trổ cuối mùa. Rồi Vỹ bỗng nhìn thấy thầy mặc quần áo trắng vật vờ giữa bãi tha ma. Thầy lộn cây chuối, cào lên những mớ rau má, rau khúc đưa cho u và cái Hậu "thứ này vừa là lương thực vừa là thuốc nam thần diệu, xưa từng nuôi Bá Di, Thúc Tề trốn nhà Chu vào núi". Thầy nói vậy và cười như khóc… Rồi thầy bỗng khóc thật, khóc hu hu khi chợt nhìn thấy thằng Vọng, trong bộ binh phục ác ôn rằn ri Mỹ Diệm đang xả súng bắn vào những tù nhân nhà lao Phú Lợi…
Nước ướt đầm hai hốc mắt Vỹ lúc nào. Vỹ vò những trang diễn ca trên bàn vứt vào sọt rác, rồi cắm cúi chép vội những ý nghĩ vừa vụt hiện. Có lẽ Vỹ phải viết tiểu thuyết. Chỉ có tiểu thuyết mới chứa đựng được tư tưởng của nhà văn. Thơ không đủ sức dung nạp những mảng hiện thực bi tráng của đời sống. Thơ là thứ vulnerable (nguy hiểm, bất an), như nhà thơ Hàn Thâm Nho bạn anh từng nói.
Vỹ đâu hay rằng Khiêm nào có ngủ. Nàng nằm ôm con và lặng lẽ nhìn chồng. Nàng cũng có nỗi đau giấu chồng từ mấy hôm nay.
Lặng lẽ đến bên Vỹ, vô tình nàng để rơi giọt nước mắt lớn trên trang ghi chép viết dở.
- Kìa, sao em khóc? - Giật mình, Vỹ quay lại, choàng tay ôm Khiêm ngồi xuống lòng mình.
- Em định không cho anh biết… Nhưng em không giấu nổi.
- Có chuyện gì thế em?
- Cậu Khánh bỏ nhà đi mấy hôm nay rồi. Mợ bảo với em hôm qua. Nghe nói nó theo bạn lên nông trường Quan Chi…
- Sao lại có chuyện đó? Anh tưởng cậu Khánh đã vào làm ở đội chiếu bóng Cầu Giấy rồi kia mà? Đồng chí trưởng phòng văn hoá huyện đã hứa với anh…
- Đi làm được một tuần, tự nhiên cậu ấy bỏ việc. Mợ hỏi vì sao, cậu ấy nói là không thích làm. Sáng sớm hôm thứ hai, mợ dậy, không thấy Khánh. Cậu ấy mang hết quần áo, để lại cho mợ lá thư này. Đây, anh xem đi.
Thư Khánh viết nắn nót trên giấy vở học trò. Nét chữ chàng học sinh lớp mười học giỏi nhất trường, đẹp như chữ viết bằng khen:
"Mợ kính yêu,
Công việc ở đội chiếu bóng rất hợp với con và con rất thích.
Không phải con tự ý bỏ đội mà con bị họ sa thải. Một đơn vị làm nhiệm vụ tư tưởng văn hoá, truyền bá đường lối, chủ trương chính sách, đời nào lại chấp nhận một anh chàng gia đình tư sản, có bố và các anh chị em đi Nam, phản bội quê hương xứ Bắc. Với lý lịch bất hảo này, con sẽ không thể tìm được việc làm ở Hà Nội, và rồi suốt đời cũng không thể ngóc đầu lên được. Cha mẹ trót ăn mặn thì con phải chịu khát nước.
Đành xa Hà Nội, xa mợ và anh chị để đi chuộc lại tội lỗi, gột rửa lý lịch gia đình. Con đã xác định, dù có phải lao động khổ sai, cũng quyết lập thân, chứng tỏ một thanh niên có lý tưởng.
Mợ cùng anh chị và cháu đừng lo lắng gì cho con cả. Hãy giữ sức khoẻ, mợ nhé. Mợ nhớ đừng xách nước lên tầng thượng. Buổi tối mợ chịu khó xuống vòi nước của trường. Con đã nhờ Hạnh hằng ngày đến giúp mợ. Đến nơi làm việc mới, con sẽ tin về cho mợ ngay.
Con trai của mợ.
Đào Phan Khánh."
- Cậu Khánh khá lắm - Vỹ đưa lại cho Khiêm lá thư, giọng tỏ ra cứng cỏi, nhưng không giấu nổi tiếng thở dài - Đi như thế là phải. Một sự lựa chọn khôn ngoan. Cuộc sống ở nông trường sẽ rèn giũa cậu ấy trưởng thành. Nếu đúng Khánh ở nông trường Quan Chi thì tuần sau anh sẽ xin nghỉ phép, lên xem cậu ấy ăn ở thế nào.
Chuyến Vỹ lên nông trường Quan Chi, có thêm Hạnh, người yêu của Khánh. Hạnh là em gái Đức, bạn học cùng lớp với Khánh một cô gái hồn nhiên, đầy cá tính. Ngay từ đầu năm học cấp ba, Hạnh đã thầm mê bạn của anh trai mình.
Táo bạo hơn, Hạnh còn chủ động tấn công Khánh trước. Có dịp nào đi xem phim, xem kịch, Hạnh cũng bắt anh trai phải mua vé cho cả ba, và bao giờ nàng cũng tranh ngồi giữa. Có lần, cả buổi, Hạnh chẳng thiết xem gì, thỉnh thoảng lại quay nhìn Khánh như hút lấy anh. Rồi không biết từ lúc nào, bàn tay Hạnh tìm nắm bàn tay Khánh. Khánh bàng hoàng, rồi hiểu ra. Họ đến với nhau từ đấy.
Yêu nhau rồi, Khánh mới biết Đức và Hạnh là con gái thượng tá Võ Khang, một sĩ quan quân đội từng được quân Pháp gọi là hùm xám Khu Năm trong thời kỳ kháng chiến chín năm.
- Chúng mình hãy coi nhau như bạn. Tình yêu sẽ chẳng dẫn đến kết cục gì đâu - Khánh đã chủ động nói với Hạnh.
- Vì sao? Em không xứng đôi với anh ư?
- Vì bố Hạnh và bố mình đang ở hai đầu chiến tuyến đối nghịch. Con một vị sĩ quan cao cấp đời nào chịu lấy con gia đình tư sản, có bố đi Nam.
- Mo phú hết. Em cấm Khánh không được nhắc đến chuyện này nữa. Em là nữ hồng quân Marutxia trong phim "Người thứ bốn mốt" của đạo diễn Grigôri Chukhơrai, còn anh là tên Bạch vệ mắt xanh đáng yêu thì đã sao? - Hạnh bướng bỉnh và quyết liệt giành giật và bảo vệ tình yêu.
Lên thăm Khánh đợt này, Hạnh muốn báo cho anh một tin mừng: Cô vừa có giấy báo đỗ vào Đại học Y khoa. Sáu năm nữa, Hạnh trở thành bác sĩ. Ngày ấy, nếu Khánh vẫn muốn lập nghiệp ở nông trường, Hạnh sẽ tình nguyện lên sống cùng anh. Với cô, Khánh là thủ đô của hạnh phúc và tình yêu.
Hai anh em lai nhau trên chiếc xe đạp Peugeot cũ. Nếu đi đường ô tô thì phải mua vé từ bến xe Kim Mã lên Đại Từ, rồi đi bộ chừng hai chục cây số. Muốn có một đôi vé xe khách thì phải xếp hàng từ nửa đêm. Có người đến từ đêm trước, xếp lốt bằng một hòn gạch hoặc chiếc nón mê xí chỗ. Đã kỳ công và khổ ải thế, mà nhiều khi đến lượt mình thì hết vé. Đành đợi đến mai hoặc mua lại của con phe giá đắt gấp hai, ba lần.
Thế nên hai anh em đi xe đạp cho chủ động. Chỉ khổ thân Vỹ. Người gầy lỏng khỏng, lai cô thiếu nữ béo lẳn nặng hơn năm chục ký, lên dốc đạp méo mặt, nhưng tính sĩ diện không dám kêu ca gì. Chặng đường năm chục cây số, tịnh không hàng quán. Hoà bình rồi mà vẫn chẳng khác gì ngày kháng chiến. Nghiêm cấm các hàng ăn, rượu quốc lủi, các loại bánh trái, như bún, phở làm từ ngũ cốc. Nạn thiếu lương thực khiến các nhà chức trách, nhất là các địa phương phải xin gạo trợ cấp của trung ương, cấm đủ thứ. May mà đến bến phà Sông Công bỗng gặp một quán hàng. Một bà cụ mà Vỹ cứ tưởng suốt những năm 1950 vẫn ngồi đây. Vẫn vài gióng tre lợp lá cọ sơ sài ba thanh ghế dài, một cái chõng, trên để lọ kẹo vừng, bịch thuốc lào, mấy cái bánh tẻ, đĩa trứng vịt luộc, giỏ nước chè xanh, ngay phía trên, toòng teng vài nải chuối rừng.
- Bắt đầu từ đây là chúng ta đã lọt vào vùng ATK của cuộc kháng chiến chín năm, có phải không cụ nhỉ? - Vỹ rít thuốc lào khoái trá, vừa thả khói mù mịt, vừa nói với Hạnh và bà cụ hàng nước - Đám cưới nổi tiếng và tai tiếng của đại tá Trần Dụ Châu, cục trưởng Cục Hậu cần, người sau đó bị Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh tử hình vì tội tham nhũng, được tiếp tế hàng hoá từ Hà Nội lên cũng qua đường phà sông Công này. Lát nữa đến sát chân Tam Đảo, anh sẽ chỉ cho em nơi Trần Dụ Châu tổ chức đám cưới hồi ấy…
Con đường lên nông trường Quan Chi gợi trong Vỹ nỗi nhớ cồn cào hai năm cuối cùng của cuộc kháng chiến. Những vết xe trâu hằn sâu, uốn lượn giữa những vạt đồi, khe suối. Qua phà sông Công, một con phà tự hành bằng dây cáp buộc căng hai bờ, thuỷ thủ và hành khách cùng kéo bằng tay và móc sắt, đã thấy thấp thoáng những mái nhà sàn, những nương chè lượn sóng. Dãy Tam Đảo chia ranh giới hai tỉnh Vĩnh Yên, Thái Nguyên. Ngược đường phân thuỷ lên hướng tây bắc, qua Đại Từ ở Đèo Khế, Đèo De là đến Sơn Dương, Định Hoá, thủ đô gió ngàn. Những ngày làm báo Vệ quốc ngắn ngủi nhưng khắc những dấu ấn trong đời Vỹ, không thể phai mờ. Đó là trường đại học vĩ đại và duy nhất của Vỹ. Hầu hết những bài thơ trong tập "Thời của Thánh Thần", anh viết trong những căn nhà sàn ven rừng, dưới chiến hào, giữa hai trận đánh. Bây giờ đọc lại, vẫn thấy rưng rưng, vẫn một tình cảm chân thành và da diết.
Vỹ còn nhớ như in, lần đầu tiên trong đời anh đặt chân đến cái xóm Chòi, dưới chân dãy Tam Đảo kia. Nơi ấy là đại bản doanh của các văn nghệ sĩ với những tên tuổi lừng lẫy: Tố Hữu, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Xuân Phái, Văn Cao… đang và sẽ mãi mãi ngự trị nền văn nghệ cách mạng và kháng chiến. Xóm Chòi cũng là nơi ở của đồng chí Tư Vuông, người anh lớn của giới văn nghệ. Mặc dù đã có lá thư giới thiệu của anh Chiến Thắng Lợi, lại được đích thân đồng chí Tư Vuông lệnh đến gặp, mà sao Vỹ vẫn run rẩy, lo sợ. Rất may là người Vỹ gặp đầu tiên ở xóm Chòi lại là nhà văn Trần Nguyễn, người đã từng khoe với Chiến Thắng Lợi bài thơ "Sống" trong chuyến đi vào vùng địch hậu năm nào. Trần Nguyễn gặp Vỹ như bắt được vàng, cười ha hả rồi dắt Vỹ đi hết các lán giới thiệu với từng nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ và hoạ sĩ…
- Tác giả "Thời của Thánh Thần" đến thăm bọn ta các ông ơi. Bỗng nhiên rồng đến nhà tôm, vĩ nhân đến với người trần, hớ hớ… - Trần Nguyễn bỗ bã mà chân tình.
Ngay lập tức ông coi Vỹ như bạn vong niên, như kẻ bằng vai phải lứa, làm tim Vỹ cứ rung thon thót. Vỹ rưng rưng như một kẻ cuồng tín đầy sùng bái và ngưỡng vọng, như một con chiên trước các đấng thánh thần. Anh được bắt tay từng nhà thơ, nhà văn, nhà danh hoạ lớn của đất nước. Bắt tay với tất cả sự run rẩy của kẻ được ban phước lớn, mà không dám ngước nhìn vào mắt người đối diện.
Ấn tượng nhất là khi Vỹ được dẫn đến gặp đồng chí Tư Vuông. Qua dãy lán dùng làm nơi ở và làm việc của cơ quan văn nghệ, theo con đường mòn sạch sẽ chạy giữa vườn chè thì đến chiếc lán của người anh lớn.
- Vỹ đấy phải không? Trẻ quá, hỉ. Vào đây, mình đợi Vỹ từ lâu!
Ngay những câu giao tiếp đầu tiên, đồng chí Tư Vuông đã xoá đi những mặc cảm, ngăn cách giữa cấp trên và cấp dưới, khiến Vỹ bớt tự ti và dè dặt.
- Dạ, báo cáo bác, cháu đến thăm bác…
- Thứ nhất là không có bác cháu ở đây - Đồng chí Tư Vuông giơ hai bàn tay vỗ vỗ trước mặt - Hãy gọi tôi là đồng chí. Chúng ta cùng là đồng chí. Thứ hai, đây không phải cuộc đến thăm mà là làm việc. Đồng chí có trách nhiệm viết một bài báo phản ánh khí thế của những văn nghệ sĩ đang dồn sức phục vụ kháng chiến, phục vụ những chiến dịch lớn, có tính quyết định của vận mệnh dân tộc sắp tới…
Suốt cả buổi, Vỹ chỉ ngồi nghe đồng chí Tư Vuông nói. Nghe và ghi chép không sót một chữ trong cuốn sổ tay mặt trận. Những tư liệu này, chỉ một tuần sau đã xuất hiện trên báo Vệ quốc với cả một trang phóng sự đầy ấn tượng: "Chở chữ vào chiến dịch".
- Công việc xong rồi. Bây giờ chúng mình là bạn bè văn chương - Kết thúc buổi làm việc, đồng chí Tư Vuông bỗng đổi giọng. Ngay lúc ấy, người cần vụ pha một ấm trà mới, và bưng ra một đĩa hồng ngâm vàng suộm - Trái ngon Việt Bắc đó, Vỹ ăn đi.
Tự tay đồng chí Tư Vuông đưa cho Vỹ trái hồng to nhất, ngon nhất. Rồi ông đi vào sau bức vách ngăn, cầm ra một cuốn sách.
- Mình vừa in tập thơ "Thủ đô gió ngàn", tặng Vỹ đọc cho vui. Nếu có thời gian và thấy tiện thì góp ý cho mình…
Tim Vỹ như muốn ngừng đập. Anh lấy hơi thở gấp, tay run run lật giở trang đầu. Không thể tin ở mắt mình. Những dòng chữ viết nghiêng, mềm mại và nắn nót bằng thứ mực bút Parker xanh đậm:
Tặng Nhà thơ trẻ Nguyễn Kỳ Vỹ, người tri âm.
Việt Bắc, mùa Thu.
Ngô Sỹ Liên
Bằng một trí nhớ thần đồng, lại được bao bọc bởi lòng tôn kính, ngưỡng vọng, chỉ trong tuần lễ, Vỹ đã thuộc làu từng bài thơ trong tập "Thủ đô gió ngàn" của nhà thơ Ngô Sỹ Liên. Anh viết một bài dài đăng trên báo "Văn" giới thiệu tập thơ, tất nhiên chủ đề chính vẫn là ngợi ca, khẳng định một thành tựu thi ca cách mạng. Tuy nhiên, với bản tính không thích xu nịnh, khen chê rõ ràng, ở phần cuối bài, Vỹ vẫn chua thêm mấy dòng: "Đáng tiếc, có cảm giác ở một số bài, độc giả vẫn thấy nhà thơ có phần dễ dãi, ngôn ngữ thơ hoặc còn nôm na, hoặc còn gượng ép, chưa thật. Có bài còn hơi hướng của những dòng khẩu hiệu… "
Chỉ mấy dòng ấy thôi mà suốt từ đó, Vỹ gặp tai vạ. Nó trở thành ngòi nổ, thành cái cớ cho những người tôn thờ chủ nghĩa "nghệ thuật vị nghệ thuật" lợi dụng để mở cuộc tranh luận mấy năm sau về tính nghệ thuật, tính hiện thực của tập thơ "Thủ đô gió ngàn". Nguyễn Kỳ Vỹ trở thành một tiểu tướng ngông cuồng ở bên kia chiến tuyến, người đầu tiên dám chống lại nhà thơ cách mạng Ngô Sỹ Liên.
Những thông tin trên, sau ngày từ Liên Xô về nước, Đà Giang mới cho Vỹ biết. Đà Giang bảo: "Sự nghiệp văn chương của mày đã chấm hết sau những câu phê bình thật thà một cách ngu xuẩn đó. Cũng như những "vĩ nhân" đang được khoác cho chiếc mũ Nhân văn Giai phẩm, thực chất cũng chẳng phải vì học thuật, văn chương cao xa gì, mà chỉ đơn thuần vì đã dám mó dái cọp, dám phủ nhận, tranh đoạt ngôi vị của một đại công thần…"
Bây giờ, trở lại vùng thánh địa xưa, nghĩ lại những kỷ niệm cũ, mà Vỹ cứ man mác buồn.
Trái ngược lại, Hạnh như con chim sáo, nhảy tung tăng suốt dọc đường. Cái gì với nàng cũng mới lạ, khác thường.
- Anh bảo cơ quan văn nghệ thời kháng chiến đóng ở chỗ nào? Dưới chân đỉnh núi hình chóp nón kia ư? Tại sao người ta lại gọi là Quan Chi hả anh? Có phải có một ông quan nào đó không biết tên là chi chi gì, đã lên đây, và người dân đã đặt câu hỏi ấy cho địa danh này không?
Hạnh hỏi liên tục, khiến Vỹ không kịp trả lời.
***
Quan Chi vốn là một đồn điền chuyên trồng chè và trẩu, thầu dầu do người Pháp khai khẩn từ hồi đầu thế kỷ. Suốt những năm kháng chiến, đồn điền bị bỏ hoang hoá. Sau hoà bình những người lính của Đại đoàn 312 từng là mũi chủ công của mặt trận Điện Biên Phủ, cùng với lực lượng bộ đội tập kết Nam Trung Bộ được điều về đây xây dựng nông trường. Họ khôi phục và trồng mới những đồi chè bị bỏ hoang, trồng thêm hàng trăm hecta mía và chăn nuôi bò sinh sản.
Giữa năm ngoái, có lệnh khẩn điều động toàn bộ lực lượng tập kết về tham gia đường dây 559, chuẩn bị cho công cuộc giải phóng miền Nam. Để bù đắp quân số thiếu hụt, một đại đội thanh niên tình nguyện Thủ đô, chủ yếu là những cô cậu tú tốt nghiệp lớp mười, những bạn học cùng lớp, cùng trường, cùng thế hệ với Đào Phan Khánh, được tăng cường cho nông trường Quan Chi. Nói là tình nguyện, nhưng thực chất họ không còn đường lựa chọn nào khác. Toàn gia đình lý lịch bất hảo, hoặc bố xô nhầm giầy Tây để đánh ta, hoặc gia đình phong kiến, tư sản, từng ăn trên ngồi trốc, thuộc loại quan lại, tay sai thực dân, hoặc tư sản, hoặc có bố mẹ anh em dinh tê vào Nam… Nhân thân phức tạp và bất tín như thế, nhưng về mặt trí tuệ, họ xứng đáng là những thanh niên trí thức ưu tú nhất của Hà Nội. Hầu hết là thủ khoa, học sinh xuất sắc của các trường học nội thành, là con em các gia đình tư sản, tiểu chủ, công chức thời Pháp. Cá biệt có cả vài anh đang là sinh viên giỏi của trường đại học nhưng bị liệt vào danh sách đen, tư tưởng có vấn đề, phải đi lao động "thâm nhập thực tế"… Lê Đoàn, bạn của Đào Phan Khánh, người viết thư rủ rê Khánh bỏ đội chiếu bóng lên nông trường Quan Chi, thuộc loại cá biệt này. Lê Đoàn chính là cậu bé học lỏm tiếng Pháp từ mấy anh lính tẩy, từng là bạn của Nguyễn Kỳ Vọng năng nào. Bằng ý chí tự học Đoàn đã thi đỗ vào khoa văn sử Đại học Tổng hợp. Một sinh viên giỏi, tiếng Pháp nói như gió. Đoàn là đệ tử sùng bái đến mức mê tín nhà triết học Trần Đức và mấy nhà thơ trong nhóm Nhân văn Giai phẩm. Bị phát giác có tàng chứa những ấn phẩm Bốn Mùa đang cấm lưu hành, Lê Đoàn bị đình chỉ học tập. Nghe tin có đại hội tình nguyện thanh niên Thủ đô, Đoàn đã ghi tên, xung phong lên nông trường.
Chưa từng cầm cày cầm cuốc, chưa từng chân đất, ngủ rừng, mấy tháng đầu đám công tử tiểu thư chuyên cày đường nhựa này trở thành gánh nặng của nông trường. Có anh ba hôm cầm cuốc tay đã toé máu. Có cô chân phồng rộp phải nhờ người cõng. Rồi cáo ốm, bỏ ăn. Có kẻ đang đêm bỏ trốn về Hà Nội. Có cậu lạc trong rừng hai ngày không biết đường về… Nhưng rồi, họ quyết trụ lại. Chất "sỹ" và nghị lực tuổi trẻ đã nâng dắt họ. Họ đã quen dần với công việc thổ mộc, thậm chí còn hăng hái hơn cả những anh bộ đội xuất ngũ. Họ mang đến cho nông trường một luồng gió mới và một khí thế dời non lấp biển.
Cho nên thật là dễ hiểu, khi nghe tin nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ và hoa khôi trường Phổ thông công nghiệp Hà Nội, Võ Thu Hạnh đến thăm, cả nông trường bỗng lên cơn sốt, ai cũng như chực nhập đồng. Các chiến sĩ của Đại đoàn 312, nhiều người từng biết Vỹ, nhiều người đọc thơ Vỹ. Riêng đại đội thanh niên xung kích Hà Nội thì chẳng ai không thuộc thơ Vỹ. Nguyễn Kỳ Vỹ, cho đến bây giờ vẫn là thần tượng của họ.
Tất nhiên Đào Phan Khánh là người hạnh phúc nhất, mãn nguyện nhất. Đang cùng mấy người bạn đào một gốc lim xanh giữa đồi chè, thì anh bạn Lê Đoàn chạy bổ đến, gào lên:
- Khánh ơi, về ngay, có lệnh truy nã mày.
- Đồng chí Đoàn nói năng với cấp trên cho cẩn thận - Khánh nghiêm mặt, nhưng ánh mắt đã lộ vẻ bối rối vì hai tiếng "truy nã" của Đoàn.
- Nói nhanh kẻo mất thời gian. Cậu có cấp trên nào tên là Võ Thu Hạnh không?
- Sao? Thu Hạnh thì sao? - Khánh chột dạ.
Đoàn định đùa dai thêm chút nữa, nhưng thấy gương mặt Khánh đỏ nhừ thì thương hại:
- Về ngay để bám váy đàn bà… Nàng và nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ anh rể cậu vừa từ Hà Nội lên đón cậu về tổ chức cưới.
Không đợi Đoàn nói gì thêm, Khánh nhảy vọt khỏi hố đất, ba chân bốn cẳng chạy thẳng về nông trường bộ.
Hạnh xuất hiện quá bất ngờ. Nàng đẹp rực rỡ. Khánh sững lại như không tin ở mắt mình. Họ cùng nhìn nhau như đang mơ, rồi bất ngờ chạy đến ôm chầm lấy nhau như trong phim.
Tiếng hò reo. Tiếng vỗ tay ran tứ phía.
- Hôn nhau đi… i… i…
- Cho chúng tao hôn ké với, Khánh ơi…
Ai đó nhanh tay đã vớ lấy cây guitare dập liên hồi. Rồi ngay chớp nhoáng đã hình thành một dàn đồng ca vây quanh cặp tình nhân:
"Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa
Đây bao la tiếng hát vui chan hoà…"
***
Tin nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ đến thăm nông trường, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau đã lan đến khắp những đội hẻo lánh nhất. Cuối giờ chiều, khi mặt trời vừa khuất sau dãy Tam Đảo, thì từ khắp các đội sản xuất, người kéo đến nông trường bộ đông nghìn nghịt.
Vỹ e ngại nói với giám đốc nông trường, nguyên là chính trị viên đại đội của Đại đoàn 312:
- Tập trung đông người quá, có tiện không anh? Tôi đang thuộc diện phần tử bất hảo. Có cần báo cáo chính quyền…
- Anh yên tâm đi - Giám đốc rít thuốc lào hõm má, rồi vừa nhả khói mù mịt, vừa nói – Chính quyền là chúng tôi chứ ai? Không dễ gì người ta kéo đến như thế này đâu. Phải là một nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Kỳ Vỹ mới có sức cuốn hút đến thế.
Quả nhiên, rất nhiều chiến sĩ đã từng gặp Vỹ, từng là nguồn cảm hứng cho anh làm thơ, là nhân vật của anh trong những trang ghi chép mặt trận.
- Có đúng là Nguyễn Kỳ Vỹ "Thời của Thánh Thần" không? Tao đây, Tao ở đại đội pháo DKZ Lũng Lô đây.
Nhớ rồi. Cái anh chàng có cái tên kỳ cục, từng làm Chính uỷ Trung đoàn Quảng Lạc điên tiết muốn đập vỡ tan chiếc điện thoại, khi ông hỏi vào máy: "Đồng chí là ai?" "Là Tao này" "Trả lời cho nghiêm túc. Đồng chí có biết đang nói chuyện với chính uỷ Quảng Lạc không?" "Báo cáo Chính uỷ, Tao đây ạ! Em đang rất nghiêm túc. Em là Nguyễn Văn Tao"…
- Còn tớ, tớ đố Vỹ nhận ra đấy. Tớ từng cõng nhà thơ qua ngòi Thia…
- Quên sao được? Anh Lê Bìu, anh nuôi xuất sắc toàn quân…
- Đúng. Tưởng quên thì phạt nặng. Tớ cải tên rồi. Từ nay gọi tớ là Lê Bùi. Chì cần hoán vị hai nguyên âm là được một cái tên thơ mộng mà bố và mẹ mình vì mù chữ mà cả đời không nghĩ ra.
Tíu tít nhất là các cô cậu trong đội thanh niên tình nguyện Hà Nội. Họ bao vây mấy vòng quanh Vỹ, tranh nhau tự giới thiệu và xin chữ ký.
- Em là Nguyễn Văn Nức, gia đình tư sản thuốc lào, tú tài trường Bưởi, rất hâm mộ nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ.
- Em, Nguyễn Thị Hinh, gia đình tiểu thương chợ Đồng Xuân, học dở lớp chín trường Lý Thường Kiệt…
- Anh có nhớ cậu bé người hàng phố của chị Khiêm, đã từng làm giao liên đưa thư của chị Khiêm đến cho nhà thơ Nguyễn Kỳ Vỹ không? Cậu bé ấy chính là Hoàng Họp, đang đứng trước mặt anh đây…
Lê Đoàn chìa ra trước mặt Vỹ cuốn sổ tay chép thơ.
- Em biết anh từ cái hôm anh đi trong đoàn quân tiến về giải phóng Thủ đô. Em đứng trên nóc nhà phố Hàng Bông bắn một loạt súng chào mừng…
Vỹ bỗng nhớ lại những giờ phút thiêng liêng không thể nào quên ấy. Những chiến sĩ giải phóng đi trong ngợp trời hoa và những bản hành khúc vang dội. Một cậu bé tóc rối bù, cao gầy và đen trũi đứng trên tít tầng thượng của ngôi nhà bỗng làm Vỹ chú ý. Anh chợt liên tưởng chú bé trên nóc nhà kia với hình ảnh người anh hùng trẻ tuổi Gavơrốt của Vichto Huygô. Rồi cậu bé Gavơrốt của anh chĩa khẩu súng ngắn lên trời, vừa bắn vừa hét thật to: "Kính chào những người lính anh hùng trở về giải phóng Thủ đô"…
- Em còn biết anh là anh trai Nguyễn Kỳ Vọng…
- Trời, thật không? Em quen Vọng à? Giờ nó ở đâu?
- Em và Vọng cùng ở một khu phố gần vườn hoa Tập Kèn. Anh Vọng vì muốn được học thêm, đã theo bạn vào Nam. Từ ấy chúng em bặt tin nhau… - Đoàn ghé tai Vỹ nói nhỏ - Em bị đuổi khỏi trường Đại học Tổng hợp và phải lên nông trường này vì tội dám chép bài thơ "Tiếng hát nhân dân" của anh vào sổ tay và tuyên truyền trong ký túc xá sinh viên đấy…
Thật vậy ư? Vì chép thơ của Vỹ mà bị đuổi học? Vỹ không tin mình vừa nghe câu nói đó. Nhưng sau này, khi tình bạn của anh và Lê Đoàn trở nên khăng khít, thì anh hoàn toàn tin rằng, chính anh là một tác nhân đã góp phần làm xoay chuyển, biến dạng cuộc đời của Đoàn.
Ba chiếc đèn măng xông cùng lúc bỗng rực sáng. Hội trường nông trường bộ đã đông chật người. Người ta tranh nhau tự giới thiệu và xin chữ ký của Vỹ vào sổ tay lưu niệm, nhiều người đề nghị anh đọc cho chép những bài thơ mới nhất.
Vỹ sực nhớ đến quyển sổ ghi chép của mình. Tất cả những bài thơ anh mới sáng tác, cả những bài thợ yêu thích của bạn bè mà anh chép lại, đều nằm trong cuốn cẩm nang này. Có thể anh để quên ở nhà? Có thể lúc qua phà sông Công, cuốn sổ trong chiếc xắc cốt đã bị rơi xuống nước?
- Định đọc tặng các bạn những bài thơ mới nhất. Nhưng bản thảo đang bị thất lạc. Xin khất các bạn để tôi có thời gian nhớ lại. Bây giờ xin giới thiệu ca sĩ Võ Thu Hạnh sẽ hát tặng những bài hát hay nhất của mình.
Cuộc giao lưu văn nghệ độc nhất vô nhị từ ngày thành lập nông trường tới giờ, với đủ mặt lãnh đạo nông trường bộ và mấy trăm nông trường viên, chật ních hội trường, kéo tràn ra ngoài hành lang, như một lễ hội tưng bừng. Hạnh hát bài Câu hò trên bến Hiền Lương hay đến mức khối anh cứ há hốc mồm như muốn hứng lấy từng lời. Bất ngờ hơn nữa là tài ngâm thơ của Lê Đoàn, bây giờ mới phát lộ. Anh mở đầu bằng bài thơ "Lên Miền Tây", viết đúng tâm trạng và lý tưởng của những chàng trai cô gái Hà Nội, làm nhiều người rưng rưng nước mắt:
"Xe chạy nghiêng nghiêng trèo dốc núi
Lên miền Tây vời vợi ngàn trùng,
Sống ở Thủ đô mà dạ để mười phương
Ngàn khát vọng chất chồng mơ ước lớn… "
Bài thơ vừa ngâm xong, tiếng vỗ tay tán thưởng chưa dứt, nhìn quanh đã chẳng ai thấy Đào Phan Khánh và Võ Thu Hạnh, hai nhân vật trung tâm của đêm liên hoan đâu. Giữa đồng mía, đồi chè và rừng cây bạt ngàn, có trời cũng chẳng tìm thấy họ.
Chỉ còn lại mình Vỹ độc diễn trước hàng trăm người hâm mộ. Anh đọc liền một mạch như người nhập đồng những bài thơ được thính giá yêu cầu: "Sống", "Thời của Thánh Thần", "Mùa thu Hà Nội", "Tiếng hát nhân dân"…
Bài thơ cuối cùng đọc chưa dứt, bỗng cả ba bóng đèn măng xông đều tắt phụt. Cả hội trường chết lặng. Rồi tiếng la hét, tiếng huýt gió. Có cả tiếng chửi tục:
- Đ mẹ. Thằng nào tắt đèn? Thơ đang hay.
- Phản động à? Đốt đuốc lên! Kéo ra ngoài sân mà đốt lửa trại lên.
- Bắt lấy bọn phá hoại? Tống giam ngay kẻ nào tắt đèn!
- Mẹ kiếp! Mackêno. Tiếp tục đọc thơ đi, anh Vỹ ơi…
Nhốn nháo, loạn xạ. Có nhiều tiếng con gái kêu thét lên ở đâu đó. Trong ánh sáng nhập nhoạng của mấy que diêm vừa bật lên, người ta thấy loang loáng bóng một vài công an ở cửa.
Tiếng giám đốc nông trường hét khản cả giọng:
- Xin lỗi… Xin thông báo với tất cả các đồng chí và các bạn, vì lý do kỹ thuật, cuộc sinh hoạt văn nghệ phải đừng ở đây. Đề nghị mọi người về nghỉ, mai tiếp tục ra đồng.
***
Cuốn sổ tay ghi chép mà Vỹ tưởng bỏ quên ở nhà hoặc bị rơi ở phà sông Công, hoá ra đã từng nằm chỏng trơ trên bàn làm việc ở nhà xuất bản Bình Dân. Trong lúc Vỹ vội vàng làm nốt một số việc và xin nghỉ phép để lên thăm Khánh, anh đã bỏ quên vật bất ly thân này.
Nguyệt là người duy nhất nhìn thấy quyển sổ trên bàn. Sẽ chẳng có chuyện gì, nếu Nguyệt cất đi để rồi trả lại Vỹ. Nhưng vốn ngưỡng vọng và yêu mến anh, chị đem về nhà, chép lại một số bài thơ, rồi khoe với chồng.
Sành vốn không am hiểu lắm về thơ phú. Nhưng thấy Nguyệt có vẻ tâm đắc, đã sinh nghi. Đến như vợ mình mà anh ta cũng "ru ngủ" được thì hẳn là có vấn đề?
Cuốn sổ bỗng không cánh mà bay.
Nguyệt lục tìm khắp nhà cả buổi chiều. Vẫn biệt vô tăm tích.
- Rõ ràng em để quyển sổ của anh Vỹ dưới đầu giường. Anh lấy đi đâu rồi? - Nguyệt hỏi Sành.
- Anh nhìn thấy, nhưng không thèm đọc. Loại thơ phản động này chỉ đáng vứt sọt rác.
- Này, đừng có giấu đầu hở đuôi. Trả lại đi. Mai anh Vỹ về, em phải trả anh ấy.
- Việc gì mà phải trả? Coi như không biết, không quan tâm.
- Anh đừng có làm cái trò gì để hại người ta đấy nhớ… Thấy anh ấy bỏ quên, cất giúp anh ấy, mới là người đứng đắn.
Sành liếc vợ đầy ngờ vực. Cái cô này cũng có vấn đề rồi. Không biết chừng, ăn phải bùa thơ rồi phải lòng hắn ta cũng nên? Động nói đến Vỹ là bênh chằm chằm.
- Tôi xé chùi đít rồi. Quyển sổ nháp ba lăng nhăng, có gì mà quan trọng.
- Anh không đùa đấy chứ?- Nguyệt ức đến nghẹn tận cổ - Để em ra nhà cầu xem thử. Đã biết là bản thảo của nhà thơ mà còn…
Nguyệt ra hố xí thật. Sành cười khẩy:
- Đùa đấy. Tưởng chỉ mình cô mới biết giá trị của văn thơ thôi ư? Nói cho nhanh nhé. Ban đầu tôi cũng chỉ nghĩ đây là quyển giấy nháp ba lăng nhăng. Hoá ra không phải như vậy. Một tài liệu cực kỳ nguy hiểm. Có giá hời đấy… Đây mang bán rồi!
- Anh bán đi đâu? Cho ai? Để em đi chuộc - Nguyệt hốt hoảng.
- Nếu bảo là vô giá cũng không ngoa. Làm sao cô em có đủ tiền chuộc? - Sành lại gần, đưa tay xoa cái bụng lùm lùm của vợ - Cũng chỉ vì cái tác phẩm tôi gửi mình ở trong này này. Đẻ con rồi phải lo cho nó chỗ ở, cho tương lai sau này của nó. Muốn bà Ba Yên và các con vĩnh viễn từ bỏ ý định đòi lại căn nhà xoá sổ địa điểm tổ hợp cắt tóc Cờ Đỏ, phải liên tục dồn họ vào bước đường cùng, em hiểu không? Tầng trên phải là sở hữu chắc chắn của ông bà bô. Tầng dưới này, chỉ đội lốt tổ hợp Cờ Đỏ vài năm, sau đó vợ chồng mình sẽ tìm cách đuổi mấy lão thợ cạo đi mà chiếm lấy. Đẻ thêm hai ba đứa con thì bốn chục mét vuông này thấm tháp gì? Bước một hãy cứ tính thế đã. Cho nên lúc này là cơ hội nghìn vàng. Chỉ nhắc đến Ký Lạng đang làm tay sai cho Mỹ Diệm là bà Ba Yên sợ ỉa ra quần. Cầm cuốn sổ tay của Vỹ, tôi nghĩ ngay đến chuyện phải bỏ tù anh ta. Vỹ đã bị khốn đốn vì nghiệp văn, thì vợ chồng làm sao dám đòi lại căn nhà này?
Nguyệt dãy nảy:
- Trời ơi, anh nghĩ thế thật à? Làm thế độc ác lắm. Anh không nghĩ trời phật quả báo, làm sao mà em sinh đẻ mẹ tròn con vuông được?
- Thời đại này, không có mê tín dị đoan. Phải có cái nhìn biện chứng. Nhân cơ hội này làm cho tay Vỹ không ngóc đầu lên được. Vả lại phải để cho tổ chức tin tưởng. Diệt trừ Nhân văn Giai phẩm là góp phần vào cuộc đấu tranh giai cấp, kiên định lập trường vô sản…
- Em xin anh. Hãy vì mẹ con em mà làm chuyện phúc đức. Anh Vỹ không có thù oán gì với nhà mình. Anh ấy làm thơ cũng chẳng hại ai… Anh đưa em quyển sổ để em mang trả lại người ta…
- Tôi nói từ nãy tới giờ mà cô vẫn không chịu nghe. Ăn gì mà ngu lâu thế? Đây không phải là thù hằn. Mà là nhiệm vụ cách mạng. Chúng ta đều là tai mắt của cách mạng. Phát hiện thấy âm mưu phản động, sao ta lại ỉm đi, sao lại lừa dối tổ chức? Cô không nhớ câu của Mao Chủ tịch: "Thà giết nhầm còn hơn bỏ sót ư?
Biết không thể lay chuyển con người sắt đá và nhẫn tâm ấy Nguyệt chỉ ngồi ôm bụng khóc.
Sành rỉ rả:
- Tôi còn đang trù tính cho mình một chức vụ ở nhà xuất bản. Chế độ này, dù có tài năng bằng giời, dù có là thánh tướng nhưng không là đảng viên thì chỉ có ăn đất. Chỉ có người của Đảng mới được bố trí vào bộ máy quyền lực, mới được làm lãnh đạo. Cụ Mác sẽ cài người nắm tất cả, từ chức tổ trưởng tổ phó, nghĩa là tất tần tật. Cô mới được tay Tiến Tới nó kết nạp Đảng, thì phải nhân đà này mà "tiến tới" lên. Là con em gia đình cơ bản, đương kim thủ quỹ cơ quan, vậy tại sao không nghĩ đến cái ghế phó giám đốc nhà xuất bản nhỉ? So với Tiến Tới, một gã xe thồ ở chiến dịch Điện Biên Phủ, cô kém cạnh gì? Hắn viết diễn ca, truyện thơ cái đầu b… Ai mà chả biết tất cả là của tay Vỹ. Lừa sao được thằng Sành này. Nó lợi dụng chuyện kết nạp cô để ve vãn, sờ l… bóp vú cô thế nào, sao tôi lại không biết? Tôi còn để tội nó đấy. Giờ bàn đến chuyện tay Vỹ đã. Yên tâm đi. Quyển sổ của Vỹ đang trong tay nhà chức trách có trách nhiệm. Tất nhiên là khi báo cáo, tôi đã nói là công lao của cô. Cô rất có nhãn quan chính trị có triển vọng của một phó giám đốc tương lai…
Trong khi nói với vợ những lời ngọt nhạt ấy, Sành mường tượng lại cuộc gặp gỡ giữa anh và Văn Quyền. Nhớ nhất là cặp mắt một mí của Văn Quyền bỗng loé lên khi nhìn thấy quyển sổ tay của Vỹ. "Làm sao đồng chí có được tài liệu này?" "Dạ, vợ tôi thấy Vỹ bỏ quên trên bàn làm việc. Tôi thấy có trách nhiệm phải báo với tổ chức. Tôi nghĩ ngay đến anh, người mà tôi được hân hạnh tiếp xúc tại cuộc truyền đạt nghị quyết cuối tháng vừa rồi". Quyền lật dở từng trang, không ngớt gật gù: "Cô Nguyệt ở Nhà xuất bản Bình Dân thì tôi có biết. Vợ đồng chí tuyệt lắm. Rất xuất sắc và có nhãn quan chính trị nhạy bén. Chúng tôi sẽ đặc biệt chú ý bồi dưỡng nhân vật này. Nhưng đồng chí nhớ nhắc Nguyệt không được nói gì với Vỹ. Cứ coi như anh ta đánh rơi ở đâu, không biết. Chuyện này lộ ra nguy hiểm lắm. Tôi đặc biệt lưu ý hai vợ chồng đồng chí điều này: Tuyệt đối không được nói đã nộp cho tổ chức tài liệu này. Đây là nguyên tắc của tổ chức. Nếu vi phạm thì hậu quả sẽ khôn lường…". Sành bỗng như thấy sống lưng ớn lạnh. Anh ân hận vì đã trót nói với Nguyệt. Cô ấy mà bô lô ba la với Vỹ thì chết cả lũ.
- Em có cần anh nói người đang có trách nhiệm giữ quyển sổ tay của Vỹ không? - Sành dịu giọng, ve vuốt Nguyệt - Không cần chứ. Mà em cũng không nên biết làm gì. Bây giờ thì em phải hoàn toàn tin tưởng ở anh, ở tổ chức. Vợ chồng mình đang chơi một canh bạc. Chỉ cần em bí mật tuyệt đối là chắc thắng trăm phần trăm. Nếu em lộ ra, tổ chức sẽ không để em yên. Với Vỹ, em cứ chối phắt, không thấy gì, không biết gì thế thôi.
- Anh làm em không còn ra cái giống người - Nguyệt khóc nấc lên.
- Em vẫn là vợ yêu quý của anh - Sành ghé môi hôn vợ, nhưng bị đẩy ra - Chúng mình đang có một cơ hội đổi đời… Chỉ vài năm nữa thôi, biết đâu em sẽ vượt qua cả cái thằng giám đốc xe thồ?
Chương 12
Khách không mời
Những ngày hoà bình, ngắn ngủi như bóng câu qua cửa sổ.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, tàu Ma-Đốc của Hải quân Mỹ xâm phạm lãnh hải Việt Nam, gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của không quân và hải quân Mỹ trên miền Bắc, mở rộng cuộc chiến tranh huỷ diệt trên toàn cõi Việt Nam.
Những cuộc ném bom của không quân Mỹ từ vĩ tuyến 17 trở ra ngày càng dã man và khốc liệt. Cầu Thanh Am, cây cầu bé nhỏ nằm trên con đường liên tỉnh dẫn về làng Động bị đánh sập. Cây cầu gần như vô danh ít có tên trên bản đồ này mà sao lại nằm trong những mục tiêu đầu tiên của không quân Mỹ? Những ai am tường lịch sử và có chút ít kiến thức quân sự thì hiểu ra rằng người Mỹ ở tít bên kia bán cầu nhưng đã lia đôi mắt xanh lè sang vùng đất hẻo lánh này từ lâu rồi.
Từ thời Lý, Trần, Lê, con đường thiên lý từng qua đây. Theo đường thuỷ, từ kinh thành Thăng Long, xuôi sông Đáy, sông Hoàng Long, qua cửa Gián Khẩu là tới cửa Thần Phù, dong buồm xuôi biển, tiến thẳng vào đất Chiêm Thành. Cũng từ sông Đáy, rẽ qua sông Châu vào sông Hồng, rồi cắt ngang sông Luộc, phong toả con đường biển tiến vào hệ thống sông Thái Bình. Đi đường bộ, từ kinh đô, qua đây sẽ thăng tới Biện Sơn, án ngữ vùng Tam Điệp hiểm yếu. Đây là con đường của Lý Thường Kiệt, Lý Thánh Tông, Trần Anh Tông, Lê Thánh Tông… từng đi chinh phạt phương nam và mở mang bờ cõi Đại Việt. Quang Trung Nguyễn Huệ, người anh hùng kiệt kiệt cũng từng hành binh thần tốc qua đây để tiêu diệt hai mươi vạn quân Thanh mùa Xuân năm Kỷ Sửu 1789. Cho nên, không quân Mỹ quyết phá cầu Thanh Am để chặn các ngả sang đường số Một, hoặc vòng qua Nho Quan, Ninh Bình để vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh.
Cạnh cầu Thanh Am, có một chợ huyện sầm uất thường họp năm ngày một phiên. Từ sáng tinh mơ, người từ các ngả đã kéo nhau về nườm nượp. Hàng trăm thứ sản vật vùng quê. Có hẳn cả một bãi rộng chuyên mua bán trâu bò, lợn gà. Chợ họp ngay trên bờ đê sông Điền, tràn xuống tận cầu.
Lần đầu tiên những người dân quê nhìn thấy máy bay Mỹ. Mới đầu chỉ nghe tiếng ầm ì từ xa, nhìn thấy những dải khói trắng mảnh như tơ. Rồi tiếng gầm rít xé trời. Không ai kịp chạy. Không còn chỗ để ẩn nấp. Trong nháy mắt, những đàn quạ sắt hung thần đã tặng cho những người dân quê hiền lành vô tội mấy chục quả bom tấn mang nhãn hiệu USA. Ngay sau những tiếng nổ động trời là những cột lửa da cam, những cột khói đen đặc lẫn đất đá, bùn, nước, xác người, xác động vật, rau cỏ, cây cối, hàng hoá, đồ vật, tro than… dựng lên tít trời cao.
Hơn một trăm người bị chết. Hàng trăm người đi cấp cứu bệnh viện. Nhiều người đào bới mấy ngày sau vẫn không tìm thấy xác. Nhiều người chỉ còn là những búi thịt đen xỉn, không thể nhận ra. Nhiều người khi gom xác lại thì thiếu chân tay, phủ tạng…
Trong những nạn nhân của phiên chợ huyện ấy có Bính, vợ Cục
***
Cái cô Bính cào cào ngày nào, bây giờ đã là người đàn bà bốn con, lại đang chửa đứa thứ năm, bụng cao vượt mặt.
Mười một năm làm vợ, cũng ngần ấy năm làm mẹ, người đàn bà thôn quê này hầu như không có tuổi xuân. Khi thằng Nguyễn Kỳ Công, con trai cả, chưa đầy hai tuổi, thì Bính lại đẻ thằng Nguyễn Kỳ Cái. Đây là thời kỳ cực nhục nhất của Bính. Thằng bé mới thành hình trong bụng chưa được hai tháng thì bố nó phải ngồi tù vì tội dám xẻo dái ông đội trưởng Đội cải cách Phèng Cửu Tựu. May mà ông Tựu không chết, chỉ phải đi cấp cứu vá lại của quý. Cục bị khép tội làm tay sai cho địch, âm mưu phá hoại cuộc cải cách ruộng đất, giết hại cán bộ cách mạng, bị tù giam hai năm. Mãn hạn tù, người làng Động đón Cục như một anh hùng. Ai cũng ngầm khen Cục là người thuỷ chung, có khí phách, uy vũ bất năng khuất.
Chiến công của Cục đã được lan truyền khắp hàng huyện hàng tỉnh, làm cả làng hả hê. Cục được tín nhiệm đến mức, xã viên đề nghị bổ sung anh vào ban quản trị hợp tác xã nông nghiệp, nhưng chính quyền địa phương giữ ý với cấp trên, chỉ cho giữ chân đội phó đội sản xuất. Cũng thời kỳ này, hứng chí, Cục tặng tiếp Bính một thằng con trai nữa, đặt tên là Nguyễn Kỳ Cách. Rồi hai năm sau, cô con gái rượu có tên Nguyễn Thị Ruộng ra đời. Bốn cái tầu há mồm biến hai vợ chồng Cục như những con trâu cày. Nhưng nghĩ đến câu "tam nam bất phụ, Cục vẫn ấm ức. Phải "sản xuất" cho được một cu ngảu nữa cho đủ tứ hổ, cho hoàn thành đủ năm cái tên Công, Cải, Cách, Ruộng, Đất, như Cục đã dự tính.
Vất vả nhất là Bính. Chị già đi đến chục tuổi. Thật đúng với câu: "Gái ba mươi tuổi đã toan về già". Bù lại sự vất vả nuôi con, Bính có niềm hạnh phúc bình dị và niềm vui không bờ bến của người đàn bà mãn nguyện vì đang dần hoàn thành thiên chức vĩ đại của mình. Mỗi sáng dậy, ngồi vấn lại mớ tóc, chị lặng ngắm chồng ngực phanh trần, hai tay dang rộng, nằm ngáy như kéo bễ sau cuộc hoan lạc cuồng si và cực mãn, ngắm ba thằng con trai trùng trục nằm ôm gác lên nhau trong giấc say li bì, ba quí tử mang cái gien trội của bố, đứa nào cũng hao hao như Tây lai, tóc xoăn, mũi thẳng, mắt sâu, ăn bất cứ thứ gì ngủ bất cứ chỗ nào, khiến Bính nở từng khúc ruột. Thế là chỉ kịp ra chiếc vại bên gốc cau, múc gáo nước mưa, ngửa cổ súc miệng òng ọc, đong đầy nước vào lòng bàn tay phả lên mặt, là chị có thể làm quần quật cho tới đêm khuya.
Đứa con trong bụng lần này, Bính tin lại là trai. Cục muốn phá cái thế tam nam, thêm một thằng cho thành tứ hổ. Tứ hổ bất nhược. Cụ Đồ Biểu bảo, hay Cục bảo, Bính chiều tuốt.
Ngũ hổ, cửu hổ, với Bính có nhằm nhỏ gì. Nhiều lúc Bính tự thấy mình như chị gà mái dẫn đàn con bới đất trong vườn, như ả lợn nái nằm ườn thả chùm vú cho bầy lợn con thi nhau mút chùn chụt. Bính muốn Cục chỉ mãi mãi là riêng của mình, Bính sẽ đẻ cho Cục đến khi nào hết trứng thì thôi…
Càng đến ngày nằm ổ, Bính càng tham công tiếc việc. Tối hôm trước, chị thức đến gần nửa đêm để đánh nốt khoanh thừng. Làng Động có nghề làm thừng truyền thống từ mấy đời, Đàn bà con gái, ngày đi làm đồng, tối về lại chẻ giang, nứa, bện thừng. Khoanh thừng mười đôi, làm trong ba ngày, trừ vốn liếng, cũng được năm hào, đủ tiền mua hai cân gạo.
Thừng của Bính thường săn và đẹp nhất làng, ba sợi xoắn chặt vào nhau, trắng nuột và đều tăm tắp, vừa làm xong đã có người đến cất buôn. Nhưng phiên chợ Thanh Am này thì tự Bính muốn đem bán. Nhân tiện có ổ trứng gà, buồng chuối tiêu và mấy bó khoai nước mới cắt từ tối qua. Bính muốn dồn tiền mua vải may cho bố con mỗi người một cái áo, còn lại mua mớ tôm về làm mắm ăn dần. Thằng Công sắp lên lớp bẩy, cần phải trưng diện với bạn bè, mà chỉ có đôi áo cộc thay nhau mặc sà sã, sờn rách hết bả vai và ngắn cũn cỡn.
Nhìn cái bụng chửa lặc lè của vợ loay hoay mãi giữa hai dóng quang chất đầy khoai nước, lại quàng thêm mấy khoanh thừng và buồng chuối tiêu, Cục thương đến thắt lòng. Sao mà có loại đàn bà tham công tiếc việc, ki bo từng đồng xu. Chửa đẻ mấy lần mà lúc nào cũng chắt bóp, nhịn ăn nhịn mặc để phần cho chồng con. Tối qua đã bảo rồi. Không đi chợ nữa. Để hết thừng cho người ta cất buôn. Để buồng chuối rấm mà bồi dưỡng. Chồng chất thế kia, vác bụng không nổi, còn gồng gánh làm sao?
- Để thằng Công nó gánh đỡ cho - Cục chạy lại đỡ gánh hàng cho vợ.
- Trông cồng kềnh thế thôi. Nhẹ không ấy mà.
Bính khoát tay, rồi như sực nhớ ra, chạy vào bếp, đon đả mang ổ trứng gà vùi trong rổ trấu đặt giữa những khoanh thừng. Đang định cất gánh lên vai thì Cục giữ lại.
- Đã bảo rồi. Có mấy quả trứng, để mà bồi dưỡng. Bụng chửa, cửa mả. Không ăn vào mồm thì lấy sức đâu cho con, cho mẹ?
- Vẽ. Chẳng có trứng gà tôi cũng đẻ được. Bốn đứa kia, tôi chỉ hắt hơi một cái là tòi ra. Hồi cải cách với sửa sai ấy thì trứng gà trứng vịt ở đâu? Thầy nó cứ vẽ chuyện. Rổ trứng này bằng nửa yến gạo, ăn trứng ngang với ăn sâm. Tôi muốn dồn tiền mua cho bố con mình cái áo…
Nhìn cái cổ gầy ngẳng của vợ, máu Cục sôi lên.
- Bố con tôi đéo cần áo. Cời truồng ra cũng chẳng sao. Để trứng này cho thằng cu Đất…
Cục cầm phắt cái rổ trứng lên. Nhưng Bính còn hăng máu hơn. Chị níu hai tay giằng lại.
Vợ chồng giằng co nhau. Rổ trứng rơi xuống đất, vỡ nhoe nhoét vàng.
Vụ xô xát ấy báo hiệu một ngày bi thảm.
***
Đang khơi con mương cạn ngoài cánh đồng Cửa Ao, thấy tiếng máy bay phản lực quần đảo, rồi những cột khói ngất trời bốc lên từ phía cầu Thanh Am, Cục bỗng thấy nhói trong ngực.
Tiếng người thất thanh khắp đồng:
- Làng nước ôi, Mỹ bỏ bom rồi!
- Nó bỏ bom bệnh viện Phương Đình… ình… ình…
- Cả cầu Thanh Am nữa. ối giời ơi, đang phiên chợ Thanh Am. Thế này thì chết cả làng…
Cục quăng cái cuốc xuống mương, vắt chân lên cổ chạy tắt đồng. Suốt từ lúc rổ trứng vỡ, Cục luôn tự phỉ nhổ mình. Cái tay lành cầm cái tay tật nguyền, Cục vả đánh bốp vào mồm mình. Cho chừa cái thói cục cằn. Càng nghĩ càng thương vợ đến thắt lòng. Chỉ nhịn ăn mặc để dành cho chồng con chứ nào có nghĩ đến mình. Tại cái tính khí hổ lửa của Cục mà mấy lần đã làm khổ vợ con. Linh tính báo cho anh biết, Bính nguy mất.
Sau trận bom, người từ khắp ngả đổ về, bất chấp cả máy bay Mỹ có thể quay lại. Học sinh từ trường cấp ba, từ các trường cấp một, hai gần đó cũng đồng loạt nghỉ học kéo đến đen đặc. Tiếng kêu khóc, gào thét tìm người thân náo loạn.
Cục đứng giữa một vùng khói bom khét lẹt, đất đá cày xới, như thuở hồng hoang. Cánh tay liệt buông thõng xuống như một dấu than bất lực. Không còn dấu vết đâu là dãy hàng xén, đâu hàng thịt, đâu hàng rau cỏ, quang thừng. Chắc là Bính ngồi ở chỗ hàng chuối và rau lợn. Có khi mà bán hàng xong Bính đã về nhà…
- Bố ơi, con nhìn thấy đôi quang gánh của nhà ta ở búi tre đằng kia - Thằng Công từ đâu bỗng chạy đến bên Cục, mặt cắt không còn giọt máu.
- Đâu? Ở đâu? Có thấy mẹ mày không? - Cục run bần bật cầm tay con chạy đến chỗ bụi tre bị chẻ tan như sơ mướp, từng búi rễ gộc chổng ngược lên trời. Trên chót đầu mấy ngọn tre treo những vòng thừng trắng lốp như khăn tang.
- Mẹ và em mày… - Cục mếu máo nhìn quanh, rồi anh bỗng hộc lên khi nhận ra chiếc khăn vuông cùng mớ tóc dài của Bính phơ phất trên đỉnh một cây dừa cụt ngọn.
- Ối bố ơi! Mẹ con… em con…
Thằng Công khóc thét lên nhảy bổ xuống đáy hố bom sâu như một cái giếng gần đó. Cục và mọi người cũng nhảy ào theo. Đào bới một lúc thì thi thể Bính hiện ra. Một cánh tay Bính bay đâu mất. Khoang bụng trống hoác, chỉ là một khối thịt và máu lùng bùng. Mặt Bính biến dạng. Cả mớ tóc dài và mảng gáy cũng bay mất…
Bất chấp mọi người ngăn cản, thằng Công lăn xả, ôm lấy mẹ:
- Ối mẹ ôi là mẹ ôi! Chỉ vì thằng Mỹ mà mẹ và em chết thê thảm thế này…
Đang gào, thằng Công bỗng trợn mắt nhìn ngược lên, ánh mắt như muốn đốt cháy cá bầu trời.
- Đ. m. thằng Mỹ, tao sẽ giết mày…
Quá đau đớn vì căm thù, nó ngất lịm đi bên xác mẹ…
Bính chết không toàn thây. Đứa con trong bụng chưa rõ hình hài cũng bay đâu mất. Nhiều nạn nhân xấu số khác cũng chết không toàn thây. Các lực lượng dân quân, thanh niên xung kích toàn huyện đào bới suốt một ngày cũng không tìm thấy cánh tay và phần ổ bụng của Bính. Hai mẹ con để chung một cỗ quan tài mà vẫn bị vẹt một góc.
Đám tang Bính, người đen đặc cả cánh đồng. Chính quyền địa phương muốn biến đau thương thành lòng căng thù giặc Mỹ, đã huy động cả xã về đây. Từ xưa đến giờ làng Động mới có một đám tang đông như thế. Nhìn ông chồng và ba đứa con trai, một mụn con gái trứng gà trứng vịt bọc kín trong mớ khăn áo xô vật vờ đi sau quan tài, không ai cầm được nước mắt. Duy mỗi cái Hậu, Nguyễn Thị Kỳ Hậu, mười bẩy tuổi rồi, mà vẫn chẳng biết gì. Nó lũn cũn lúc đi bên bà Phúc, lúc chạy đến cõng cái Ruộng, cô tha cháu mà như nhái tha cóc, vẫn còi cọc, nhỏ xíu như cô bé lên năm. Gương mặt Hậu già nhăn nheo trùm trong chiếc khăn trắng, thỉnh thoảng cứ ngửa lên nhìn bầu trời chỉ trỏ rồi nhăn nhở cười.
Lúc sắp hạ huyệt, người ta bỗng thấy một đám người hớt hải từ cổng đồng đi ra. Dẫn đầu là cái dáng cao gầy của Vỹ. Tiếp đó là mẹ con Khiêm và mẹ con chị Là. Thằng Chiến Thống Nhất được về quê như chim sổ lồng, một mình đội vòng hoa tang trên đầu, chạy vống lên phía trước. Bé Mai trằn xuống khỏi lưng mẹ, vừa chạy theo vừa gọi anh Nhất ời ời.
Chín giờ đêm qua, nghe bản tin thời sự của Đài tiếng nói Việt Nam, vợ chồng Vỹ đã biết tin giặc Mỹ ném bom cầu Thanh Am, đúng lúc phiên chợ huyện đông nhất. Cả đêm hai vợ chồng không ngủ. Làng Động chỉ cách cầu Thanh Am hai cây số theo đường chim bay. Không khéo mà làng có giỗ trận. Quả nhiên sáng ra thì có điện khẩn. Rồi mẹ con chị Là đi xe commăngca đến, bảo về ngay, thím Cục trúng bom.
Xe không qua được cầu Thanh Am, phải đi vòng đường khác về làng, xa gần hai chục cây số. Đứng trước đoạn đường cấm người xe, Vỹ nhận ra bãi bom kéo dài tới gần dốc bệnh viện. Cái đoạn đê qua cầu Thanh Am này suốt từ thời ấu thơ đã quá quen thuộc với Vỹ. Đã có bao lần bọn học sinh lớp Vỹ kéo nhau lên chỗ tháp cống, nơi con sông Đào chảy vào sông Điền để nhìn bọt sóng sôi réo qua cửa cống mùa nước lũ. Cái cầu bé nhỏ và những người dân lương thiện nào có tội tình gì?
Hình ảnh trận bom do từng đàn máy bay Hen-cát và Khu trục của Pháp giết hại gần một trăm dân công ở dốc Cò Nòi trên đường vào Điện Biên năm nào lại hiện về. Vỹ là một trong những phóng viên mặt trận có mặt tại hiện trường đâu tiên. Khắp nơi ngổn ngang đất đá, cây đổ và bốc lên mùi tử khí. Cái mùi của chết chóc, ở đâu cũng không lẫn được. Đế quốc Mỹ bây giờ và thực dân Pháp trước đây có gì khác nhau? Chúng cùng một duộc. Thậm chí Mỹ còn dã man tàn ác hơn, vì chúng đã có công nghệ huỷ diệt.
Suốt từ khi xuống xe cho tới lúc ra nghĩa địa, cả bầu đoàn thê tử Hà Nội không ai nói một lời nào. Thấy đám người đội khăn trắng đứng đông nghịt, mấy đứa trẻ nem nép sợ hãi. Bé Mai mọi khi vẫn nhũng nhẽo bắt mẹ bế, hôm nay bỗng cun cút đi một mình.
Ông Chủ tịch xã Lưu Văn Ngao, tức Đĩ Ngao, người hàng xóm đã từng bắt bỏ tù Cục trong vụ cắt của quí của Đội Tựu ngày nào, thay mặt chính quyền, đọc một bài điếu văn dài, hình như chép sẵn từ một bài xã luận báo, trong đó chủ yếu lên án Đế quốc Mỹ xâm lược:
- Tội ác của giặc Mỹ trời không dung, đất không tha - Giọng Chủ tịch Ngao hừng hực căm thù - Theo thống kê sơ bộ của huyện, ngày hôm qua giặc Mỹ đã giết hại một trăm ba mươi sáu người. Nếu kể chị Bính và đứa con sắp đến tháng đẻ là một trăm ba mươi tám. Đó là chưa kể những người vãng lai thuộc các tỉnh, huyện khác. Riêng làng Thanh Am, nơi bị bom, số người chết lên tới bốn mươi ba người. Ngoài ra còn có hai trăm sáu mươi tám người bị thương, có mười bẩy người đang rất nguy kịch… Để biến đau thương thành hành động, ngay từ giờ phút này cả xã ta sẽ phải tiến hành một chiến dịch đào hầm hào trú ẩn. Tất cả các xã viên ra đồng đều phải có nùn rơm, mũ rơm, túi thuốc bông băng. Một trăm phần trăm dân quân du kích phải có súng và giáo mác, sẵn sàng đề phòng biệt kích và bắt phi công giặc. Nhân đây xin thông báo một tin vui: Ngày hôm qua quân và dân miền Bắc đã bắn rơi tám máy bay Mỹ, trong đó quân dân Hàm Rồng, Thanh Hoá hạ rơi bốn chiếc F4, một F105…
Bài điếu văn kết thúc bằng những lời hiệu triệu:
- Hãy biến đau thương, căm thù thành hành động cách mạng cụ thể. Hãy thực hiện khẩu hiệu "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Cụ thể trong đợt giao quân vào ngày mười hai tháng tới, toàn xã ta sẽ giao vượt mức hai mươi hai thanh niên lên đường nhập ngũ… Chị Bính ơi, chị mất đi là một tổn thất vô cùng lớn lao của anh Nguyễn Kỳ Quặc và các cháu Công, Cải, Cách, Ruộng. Cái ý định sinh một thằng cu Đất nữa cho đủ bộ tứ cũng đã bị giặc Mỹ xoá bỏ. Tội ác của Đế quốc Mỹ trời không dung, đất không tha… Chúng tôi, những người ở lại xin hứa với chị, biến những cánh đồng quê ta thành cánh đồng diệt Mỹ, đạt năng suất năm tấn một hecta…
Những nắm đất được ném xuống huyệt mộ.
Thằng Công đâm bổ xuống nắp quan tài. Mấy thanh niên khoẻ phải kéo mãi mới đưa nó lên được. Những tảng cỏ cuối cùng đã ấp lên phần mộ. Vòng hoa duy nhất được mang từ Hà Nội về, như tấm huân chương cho người xấu số.
Vỹ thay mặt gia đình nói lời cảm tạ:
- Gia đình chúng tôi không biết nói gì để cám ơn tấm lòng của bà con làng xóm, họ hàng nội ngoại cùng anh em bạn bè… đã đến tiễn đưa mẹ con thím Bính về nơi an nghỉ cuối cùng… không ai ngờ rằng, những ngày hoà bình của chúng ta lại ngắn ngủi thế, rằng chúng ta tưởng đã đánh đuổi sạch kẻ thù trên mặt đất, nào ngờ bây giờ chúng lại đột ngột kéo đến từ chân trời. Một kẻ thù vô cùng hiểm độc và man rợ…
Theo ánh mắt Vỹ, tất cả mọi người đều ngước nhìn lên. Và cũng giống như anh, tất cả đều giàn giụa nước mắt, nhưng đanh sắc hận thù.
***
Ngay sau lễ tang, mẹ con Là phải theo xe về Hà Nội, vì xe mượn của cơ quan Chiến Thắng Lợi, không thể ngủ qua đêm.
Trước khi đi, chị Là thắp hương, khóc nức nở, rồi móc trong túi áo ra tất tật tiền nong, tem phiếu, đặt vào cái đĩa để trước bài vị Bính.
- Nói là chị em dâu với nhau, nhưng chưa bao giờ được hàn huyên trọn một ngày. Thím Bính mất đi, vợ chồng tôi đau xót lắm. Anh Lợi bận công tác trung ương không về được, uỷ quyền cho tôi về chia buồn với chú và các cháu. Tính tôi có sao nói vậy, số tiền và tem phiếu này vợ chồng tôi thêm cặp vào để giúp chú Cục nuôi các cháu. Tôi hứa, từ nay mỗi tháng sẽ gửi tiếp tem phiếu về…
Thằng Chiến Thống Nhất cũng bắt chước mẹ, móc từ trong túi quần ra cả một cuộn tiền.
- Con cũng góp vào với mẹ để nuôi em Ruộng với em Cải, Cách…
Ai cũng tròn mắt ngạc nhiên vì số tiền của thằng Nhất còn nhiều hơn cả số tiền của chị Là. Thì ra đó là tiền tiết kiệm ăn sáng của Nhất: Cả bố và mẹ cùng cho cậu, khiến cậu tiêu mãi mà không hết.
Tiễn mẹ con Là về rồi, Khiêm thầm nói với chồng:
- Em đã đi kiểm tra khắp cả trong buồng ngoài nhà. Không biết chú thím ấy có gửi đâu không, chứ vừa gặt xong mà trong bồ chỉ còn vỏn vẹn hai thúng thóc, dăm cân gạo, một vại khoai kilô với chục bắp ngô giống treo trên xà nhà. Toàn bộ số lương thực kia chỉ đủ nuôi con lợn còi cọc trong chuồng, con chó ghẻ, chứ không nói gì đến người. Không biết rồi bố con chú Cục sống làm sao?
- Thím Bính đã đành… Bây giờ cần nhất là lo cho người sống…
- Anh ạ, hay mình thưa với u và chú Cục xin cho bé Ruộng ra ở với bé Mai nhà mình. Anh có để ý hai đứa nó hí húi chơi với nhau thân thiết đến thế nào không?
- Anh biết rồi - Vỹ như đọc thấy ý nghĩ của vợ - Em muốn giúp chú Cục, bớt cho chú ấy một miệng ăn lúc này…
- Vâng. Ái ngại cho chú ấy quá. Gà trống một nách bốn đứa con…
- Anh lại nghĩ rộng hơn… Về lâu dài, vợ chồng mình phải đón u và em Hậu ra ở cùng… Trước mắt, u với em Hậu phải giúp bố con chú Cục. Tất nhiên vợ chồng mình phải hỗ trợ phía sau. Mình nuôi con Ruộng là mới bớt cho chú ấy một miệng ăn. Còn ba cái tầu há mồm kia, mình Cục không kham nổi. Phải dồn tất cả bà cháu vào một bếp. U và cái Hậu cũng phải sang ở cùng bố con chú Cục để bà tiện chăm sóc các cháu và hỗ trợ chú ấy công việc nhà…
- Em có chiếc vòng mợ cho từ ngày trước, chẳng có dịp nào dùng đến. Em muốn đưa cho u để đong mấy tạ thóc trợ cấp cho bố con chú Cục anh ạ…
Những lúc lâm sự thế này, Vỹ mới thấy hết tài đảm đang và quán xuyến của Khiêm. Như người tổng chỉ huy, từ nghĩa địa về, nàng xông ngay xuống bếp, đưa tiền nhờ người mua gạo nếp, gạo tẻ, mua gà, rau, củ, cắt đặt người nấu nướng ngay một mâm cơm cúng và mấy mâm cơm cho những người ở xa. Tự tay nàng lôi con Ruộng, thằng Cách ra bể nước, kỳ cọ tắm táp cho chúng, bắt hai thằng anh Công, Cải cũng phải làm theo. Rồi, như có phép lạ, nàng lấy từ trong túi xách ra cho mỗi đứa một bộ quần áo còn thơm phức mùi băng phiến.
Cả cái Hậu, cả Cục cũng có quần áo nức mùi băng phiến. Thì ra, không biết tự bao giờ, nàng đã gom những bộ quần áo của nàng, của bà Ba Yên, của Vỹ, của cả cậu Khánh, đã lâu không mặc tới, tự tay nàng sửa chữa, cắt vá lại, để dành mang về quê.
Ý định của Khiêm được Vỹ chấp thuận ngay. Anh quyết định triệu tập cuộc họp toàn gia đình, có mời cả ông bà Phó Bùng, bố mẹ Bính tham dự, với mục đích giúp bố con Cục ổn định cuộc sống.
Chưa họp, bà Phó Bùng đã ôm mặt khóc ời ời.
- Chỉ con chết đi là thiệt, con ơi. Tiên sư cha cái thằng giặc ác…
Ông Phó Bùng vốn là một lực điền. Hơn bẩy mươi, chòm râu rễ tre đốm bạc, vểnh ngược, trông lúc nào cũng quắc thước như nhân vật Châu Xương con nuôi Quan Vân Trường trong Tam Quốc, vậy mà từ hôm qua đã già sọm thêm chục tuổi. Cái khối u trên gáy ông như càng gồ cao, đẩy mái tóc rễ tre trĩu xuống. Tai vốn nghễnh ngãng, lúc này ông cố nghiêng bên này bên kia mà cũng không hiểu vợ chửi ai, chửi cái gì. Lắc đầu thất vọng, ông đập đập vào tay bà ra hiệu đừng khóc lóc nữa, rồi nói:
- Trách móc làm gì cho thêm rối ruột. Bà có giỏi thì sang nước Mỹ mà bắt thằng giặc nó đền trả con bà. Tôi bàn với bà rồi. Vợ chồng lão già này tuy sắp xuống hố, nhưng tự tay còn lật cỏ bới đất kiếm miếng ăn được. Có thằng chú út năm nay mười chín tuổi, sắp tới tôi cho đi nghĩa vụ, trả thù cho chị nó. Người sống lúc này là phải biết làm những việc gì. Nhân đây thưa với bà và hai bác Vỹ từ Hà Nội về. Bà và hai bác cho nhà chúng tôi xin bốn đứa trẻ về nuôi cho chúng ăn học.
Ông phó Bùng chưa nói hết, bà phó đã lại khóc ồ ồ.
- Cho tôi nuôi cả bốn đứa cháu tôi. Cả thằng Công, thằng Cải, thằng Cách, con Ruộng. Ối con ơi là con ơi. Vì thằng Mỹ mà con phải bỏ bốn đứa con giữa đường giữa chợ. Thầy u không bỏ các con con đâu. Thầy u sẽ thưa với bà Phúc xin được nuôi cả bốn cháu…
Cuộc họp đã xoay chuyển hẳn so với dự kiến của Vỹ và Khiêm. Ý định xin đem con Ruộng ra Hà Nội để bé Trinh Mai có chị có em, giờ đưa ra lại thành chuyện vuốt đuôi, chuyện đãi bôi. Nhưng với cương vị người anh, người có trách nhiệm thu xếp công việc gia đình lúc này, buộc Vỹ phải có một quyết sách hợp lý.
- Thưa u, thưa ông bà Phó - Vỹ nói – Đây là lúc bố con chú Cục cần có tình máu mủ ruột rà. Tấm lòng của ông bà Phó, khiến chú Cục và cả gia đình cháu ghi ân lắm. Tuy nhiên, cần phải có sự chia sẻ trách nhiệm, kết hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể từng trường hợp. Ông bà Phó cũng đã già rồi. Tuổi già cần được nghỉ ngơi, tĩnh tại. Vả lại chú Cục cũng phải có các cháu bên cạnh để bảo ban, giúp đỡ. Cháu xin phép ông bà Phó được đề xuất cách giải quyết thế này: Từ nay u và em Hậu sẽ sang ở với chú Cục để giúp chú Cục trông nom cửa nhà. Thằng Công, anh cả, cùng với thằng Cải, hai cháu đều đã lớn, cần ở với bố để được rèn cặp. Các cháu vừa đi học, vừa lao động thêm để giúp đỡ bố, Thằng Cách đã học lớp hai, cũng đã biết làm việc vặt, nay xin được ở với ông bà ngoại để ông bà nuôi và cho ăn học. Riêng cháu Ruộng, con gái út, còn thơ dại, mất mẹ là thiệt thòi nhất. Con bé rất hợp với cháu Trinh Mai. Vợ chồng cháu xin được đưa cháu Ruộng ra Hà Nội để chị em chúng có nhau…
Phương án của Vỹ, cân đi nhắc lại, ai cũng thấy hợp lý. Cả nhà cùng nhất trí cao.
Hội nghị gia đình đang định giải tán, thì bà Lý Phúc bỗng như sực nhớ điều gì, tất tả chạy về nhà thờ. Vỹ bảo Khiêm về theo. Lúc sau, hai mẹ con trở lại với một gói vải lụa đỏ, bé như quả quýt trên tay bà Phúc.
- Suốt mấy năm trời, tôi quên bẵng đi - Bà Phúc vừa quệt nước mắt vừa nói - Đây là đôi nhẫn cưới của vợ chồng nhà Cục. Mẹ Bính nó lo xa, không dám dùng đến, nên đã gửi tôi. Tôi vẫn cất giữ cho mẹ Bính từ ngày đó. Nay tôi đưa lại để bố Cục bán đi mà nuôi con. Phần tôi với con Hậu, không nói làm gì: Tôi thương nhất bốn bố con nhà Cục. Một đứa về ở với ông bà ngoại, một đứa ra Hà Nội ở với nhà Vỹ là phải rồi. Còn ba bố con anh Cục, giờ thì không cho, tôi cũng cứ ở. Gà trống nuôi con một mình khổ lắm. Bố nó lại đâu có được lành lặn như người ta…
Mọi người không ai hiểu vì sao lại có đôi nhân cưới này. Cục nhìn, như lần đầu tiên biết đến thứ kim loại quí hiếm màu vàng.
- U cứ giữ lại - Cục đưa lại đôi nhẫn vàng cho bà Phúc - Bây giờ con chẳng còn lòng dạ nào mà nghĩ đến vàng.
Cục cố nhớ lại. Anh đưa tay vỗ lên mớ tóc xoăn màu râu ngô. Chợt như có một luồng sáng loé trong đầu Cục. Từ giữa luồng sáng ấy, vụt hiện hình ảnh người đàn bà, dáng lịch lãm từng trải, đi xe ô tô từ thị xã về dự đám cưới vợ chồng Cục năm nào. Bà Cam, đúng rồi. Người đàn bà từng tha thẩn rình hai cậu bé Cục và Vện chơi bên bờ ao ngày xưa, người hay đóng giả bà mua đồng nát thường lui tới nhà ngày ông Lý Phúc còn bốc thuốc và giữ chân lý trưởng. Chính bà Cam ấy đã tặng cậu bé Cục chiếc dây bạc vuốt hổ mà con Ruộng đang đeo trên cổ kia. Chính đôi nhẫn kia nữa, bà Cam đã đeo vào tận tay Cục và Bính trong đám cưới chạy của hai người.
Bà Cam, người phụ nữ tốt bụng và bí ẩn ấy, giờ ở đâu?
Chương 13
Nỗi đau người mẹ
Ni sư Đàm Hiên, người đẹp chùa Phổ Hướng năm nào, giờ đã là bà Cam, phó chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh, một vị thiếu phụ tuổi ngoài bốn mươi.
Đoá hoa, dù rực rỡ lộng lẫy nhường nào, cũng chỉ có một thời. Người đẹp, dù sắc nước hương trời như các đại mỹ nhân Trung Hoa: Tây Thi, Điêu Thuyền, Dương Quý Phi, Võ Tắc Thiên… rồi cũng đến lúc tàn phai. Với Cam, quy luật của sắc đẹp nghiệt ngã hơn nhiều. Chị như nhân vật trong câu nói của người xưa: "Gái ba mươi tuổi đã toan về già". Chị tưởng như chưa hề có tuổi xuân, chưa hề được trải qua đời thiếu nữ, chưa hề biết đến hạnh phúc làm vợ, làm mẹ. Đôi lúc, trong đâu đó ký ức, xa hút, mờ mịt như ở một thế giới nào, hiện về hình ảnh ba ngày thần tiên ở phố Phương Đình. Đời đàn bà của Cam chỉ có ba ngày thần tiên ấy. Triền miên trong suốt mấy chục giờ đồng hồ. Thoả thuê giữa thanh thiên bạch nhật. Ngây ngất tận hưởng nguyên khí tinh khôi của người trai cuồng nhiệt mê đắm. Nếu kể từ cái buổi chiều như muốn phát điên vì phải dồn nén quá nhiều thèm khát dục tình trong cái nhà kho chùa Phổ Hướng ấy, thì ba ngày thần tiên ở Phương Đình, là sự bù đắp tuyệt vời, là đỉnh điểm của ái tình, đủ cho Cam sống một đời. Và cũng chỉ thế thôi. Sau đó là những chuỗi ngày dài dằng dặc kìm giữ và giấu mình, thậm chí phải lên gân cốt, đạo đức giả. Cách mạng, theo đúng nghĩa đen của mọi thời, gần với tôn giáo ở bản tính hà khắc, cay nghiệt và thói đạo đức giả, vì tính mục đích của nó, đã vô tình triệt tiêu đến mức tối đa bản năng con người. Bản năng lớn nhất, thậm chí duy nhất là tính dục. Vì thế bao nhiêu tuổi xuân đã bị chôn vùi. Tuổi xuân của Cam cũng vậy. Suốt từ mối tình vụng trộm và kết trái ở Phương Đình, chị hầu như đã xong thiên chức đàn bà.
Ngắn ngủi vậy sao, một phận đàn bà? Câu hỏi này thoạt đầu khiến Cam bâng khuâng, lo âu hàng nửa tháng trời. Sau đó thì đau đớn, cay đắng, nuối tiếc khôn nguôi.
Sự kết thúc thiên chức đàn bà của Cam xảy ra cách đây một năm. Đó là thời kỳ Cam được triệu tập về học trường Chính trị cao cấp, một khoá học mười hai tháng đào tạo cơ bản cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh và cấp bộ, ngành trung ương. Mười hai tháng, chia làm bốn học kỳ, tương đương với bốn năm học chính quy. Tốt nghiệp khoá học này, coi như không cần học thêm một văn bằng chứng chỉ nào.
Giống như những Cử nhân thời Tây, đã qua trường hậu bổ là có quyền làm quan cai trị ở bất cứ đâu. Chương trình học không khó, nhưng nhiều khái niệm mới, mơ hồ và trừu tượng, buộc học viên chỉ có cách duy nhất là thuộc lòng. Chỉ cần học thuộc lòng, không cần hiểu, là có thể đạt điểm cao. Như hầu hết học viên trong khoá học, những bí thư, chủ tịch huyện, trưởng, phó ty, vụ trưởng, vụ phó, giám đốc, trưởng phó ban, ngành… những người xuất thân từ công nông binh, Cam cũng ù ù cạc cạc như cô học trò lớp hai phải theo học chương trình đại học. Không biết thì càng phải cố. Học ngày học đêm, bất kể ngày lễ chủ nhật. Hoảng nhất là viết thu hoạch, kiểm tra hết học phần. Cả lớp đối phó. Lừa giáo viên ra ngoài để copy giở sách. Chưa xong phần Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, đã đến phần Kinh tế chính trị học. Rồi hai con đường. Rồi lịch sử giai cấp… Chỉ sau ba tháng học vẹt, Cam đã sút năm cân. Không thể do ăn uống kham khổ. Thời nằm bờ ngủ bụi hoạt động bí mật trong vùng địch hậu khu Ba, nhịn đói là thường mà Cam vẫn phây phây. Vậy thì tại sao mỗi ngày cơ thể Cam cứ teo tóp? Có lần, nhặt được một mảnh gương vỡ còn bằng cánh cửa sổ, Cam mang về phòng, giữa trưa, đóng chặt cửa lại, cời hết quần áo để soi. Nồng nỗng trong gương, Cam tưởng như mình đang gặp một mụ già lạ hoắc nào. Cam tiếc ngẩn ngơ cái thời phồn thực thầy tiểu Hiên ở chùa Phổ Hướng, tiếc xót xa ba ngày thần tiên với Khôi ở Phương Đình. Bầu vú mới hôm qua còn ngồn ngộn, căng đầy, giờ đã tóp lại, chảy xệ. Cam mơ hồ cảm thấy trong người mình có sự đổi khác. Và quả nhiên, vào đúng cái tháng thứ ba của khoá học, đúng kỳ thi hết phần một giáo trình, Cam chờ đợi mãi vẫn không thấy kinh nguyệt.
Chẳng lẽ mới hơn bốn mươi tuổi Cam đã tắt kinh? Câu hỏi này sâu xoáy trong đầu, có lúc nhức buốt như có ai đó xọc một chiếc kim dài xuyên suốt hai bên thái dương, có lúc tê dại, choáng váng như bị giáng một vật nặng từ trên cao. Bốn đêm liền Cam không chợp mắt. Hay là mình có thai? Chỉ có ý nghĩ có vẻ như ngớ ngẩn này mới đủ chứng cứ khoa học để có thể giải thích được hiện tượng tắt kinh ở người đàn bà đang còn tuổi sinh nở. Nhưng có thai với ai? Bao giờ? Điều này thì Cam quá biết rõ mình. Suốt từ ngày đẻ bé Lê Kỳ Chu, Cam không hề có sự đụng chạm với bất kể người đàn ông nào. Sự phản bội của Khôi khiến Cam căm thù và ghê tởm tất cả bọn giống đực. Có lẽ như vậy. Nhưng cũng còn do hoàn cảnh chiến tranh và sự nghiêm khắc của tổ chức nữa. Đã nhiều lúc Cam cũng tự cảm thấy mình như đang biến đổi giới tính. Cam mọc râu mép và rậm rì lông nách. Cam mạnh mẽ và lạnh lùng, lý trí và vô cảm.
Rồi Cam cũng cố tìm ra nguyên nhân. Phải rồi. Nếu tính từ buổi sáng đồng chí Chiến Thắng Lợi, Phó Ban X, đến giảng bài chuyên đề "Hai con đường" cho tới khi Cam tắt kinh, đã gần hai tháng.
Tưởng thầy giáo Chiến Thắng Lợi là ai, hoá ra chính là Nguyễn Kỳ Khôi, người mà Cam từng kỳ công tìm kiếm suốt mười mấy năng trời.
Cố tình thu nhỏ người lại, và ngồi tận góc dãy bàn cuối lớp học, mà Cam vẫn tưởng như mình trần truồng, loã lồ dưới ánh mắt sáng rực như đèn pha của đồng chí Chiến Thắng Lợi. Chính sự kinh ngạc đến sững sờ khi chợt phát hiện ra Cam, rồi ánh mắt xăm xoi bỡn cợt của đồng chí đã khiến Cam có ý nghĩ ấy. Khôi giờ đã là người đàn ông với tất cả sự hoàn hảo và thành đạt. Một giảng viên tầm cỡ dạy ở một trường hậu bổ tối cao của chính thể. Nhưng đôi mắt sâu có phần âm u, bí hiểm và ánh nhìn sáng quắc mỗi khi chiếu rọi, thì vẫn là của chàng trai mười tám tuổi trong ba ngày thần tiên ở Phương Đình ấy. Cam tin chắc là Khôi nhận ra nàng ngay, dù nàng ngồi ở bất cứ xó xỉnh nào trong lớp học. Trong giây lát, khi ánh mắt họ gặp nhau, Cam cảm giác như mình bỗng lên con sốt Nhật kỳ lạ. Xen giữa tâm trạng yêu thương xa xót là sự căm ghét, hận thù. Cơn sốt giờ đã giần giật trong từng li ti huyết quản. Mặt nóng phừng phừng. Cam đưa tay lên trán. Thân nhiệt chắc đã lên tới bốn mươi độ.
Nhưng phải đợi đến giờ nghỉ giữa tiết học, Cam mới báo cáo lớp trưởng, trốn về phòng. Cơn sốt nóng lui, liền chen cơn sốt rét. Phải đắp chăn bông và đi tất dài.
Buổi chiều, giảng viên Chiến Thắng Lợi đột ngột đến thăm. Đó là bất ngờ lớn nhất mà Cam không lường trước. Cam cố gượng ngồi dậy, nhưng Lợi đưa tay ngăn chị lại.
- Suốt mười mấy năm qua tôi vẫn đi tìm Cam.
Cam biết Lợi nói dối, anh đã quá quen với thói đạo đức giả, nhưng chị không muốn nói lại.
- Chiến tranh… biết làm sao được. Cam hãy tha lỗi cho tôi. Và chúng ta hãy giữ mãi kỷ niệm với một thời tuổi trẻ bồng bột.
- Thôi thầy đừng nói nữa. Tôi đã quên lâu rồi… Tôi thậm chí không nhận ra giảng viên Chiến Thắng Lợi là ai khi thầy bước lên bục giảng. Với tôi, Nguyễn Kỳ Khôi đã chết…
Giờ thì Lợi hiểu ra rằng Cam vẫn không tha thứ cho sự trốn chạy của anh. Nghe câu nói đủ biết Cam căm thù, nhưng vẫn còn yêu…
Im lặng hồi lâu, như chẳng còn điều gì để nói. Bỗng Lợi ngồi vào mép giường, cầm tay Cam.
- Cam vẫn còn giấu tôi. Hình như giữa chúng mình vẫn còn một giọt máu… Con chúng ta ở đâu?
- Hình như ư? Không có chuyện ấy đâu - Cam hất tay Lợi ra, cố ngồi dậy, ánh mắt đầy giễu cợt - Người trần làm sao có thai được với ma? Thầy hãy yên tâm rằng giữa chúng ta không dính líu điều gì. Với tổ chức thầy vẫn trong sạch và hoàn toàn được tin cậy. Đường quan lộ của đồng chí Chiến Thắng Lợi vô cùng thênh thang rộng mở…
- Cam, đừng giấu tôi. Nếu chúng ta có con, thì giờ là lúc tôi có điều kiện chuộc tội lỗi… Bằng bất kỳ giá nào, tôi sẽ lo cho con… Cho cả Cam nữa. Hết khoá học này, Cam có thể đề đạt nguyện vọng…
- Thưa thầy Chiến Thắng Lợi, đồng chí Chiến Thắng Lợi, câu chuyện của chúng ta nên chấm dứt ở đây! - Cam hất mớ tóc qua vai. Coi như chưa bao giờ tôi gặp anh Nguyễn Kỳ Khôi… - Tôi mệt lắm. Tôi cần được nghỉ ngơi.
Chiến Thắng Lợi ra ra khỏi phòng, Cam úp mặt xuống gối, khóc xối xả, như vừa chôn cất nửa đời mình.
Tới nửa đêm, khó nhọc lắm, giấc ngủ mới đến chập chờn. Cam mơ thấy mình trở lại phố nhỏ Phương Đình. Thầy giáo Chiến Thắng Lợi từ trên bục giảng, cắp theo tập giáo trình "Hai con đường", chạy theo Cam về tận căn nhà có giàn hoa giấy. Rồi thày trải kín tập giáo trình lên giường, thành một chiếc đệm, dày mà êm ái. Những trang giáo trình biến thành những trang "Tố Nữ kinh". Thầy Lợi cởi quần áo, thoắt trở thành chàng trai mười tám tuổi Nguyễn Kỳ Khôi, với những cơ bắp cuồn cuộn, sung mãn, với khẩu đại pháo dũng mãnh, lúc nào cũng căng một góc bốn mươi lăm độ. "Anh mới đọc được bộ sách "Tố Nữ kinh", một bí truyền về cách làm tình của vua chúa Trung Hoa. Sách dạy có chín kiểu làm tình của bậc đế vương. Anh sẽ bù lại cho em bằng lần lượt các kiều "Long phiên" (Trứng lộn ngược), "Hổ bộ" (con hổ bước đi), "Viên bác" (con vượn chạy), "Thiền phụ" (con ve bám), "Qui đằng (con rùa bay lên)…"
Không đợi Cam có đồng tình hay không, bằng hàng loạt động tác mạnh mẽ, dứt khoát và chính xác, Khôi lột hết quần áo trên người Cam, rồi ôm xiết lấy nàng mà ngấu nghiến, cào xé…
Có lẽ Cam đã tắt kinh từ đêm mơ ấy?
Sau lần ấy, Cam vĩnh viễn chấm dứt một kiếp đàn bà.
***
Cam trở về làng Động lúc đã xế chiều. Vụ máy bay Mỹ bỏ bom cầu Thanh Am, ngay hôm sau, đài báo đã loan tin, nhưng tin Bính, vợ Cục, bị chết trong trận bom ấy thì một tuần sau chị mới biết.
Cam tưởng như mình cũng vừa bị bom Mỹ thả trúng đầu. Tin sét đánh làm bật dậy tình mẫu tử tưởng bao năm đã ngủ quên trong chị. Ở người cán bộ phụ vận lúc nào cũng tất bật vì những công việc, lúc nào cũng đăm chiêu nghiêm nghị trước những chỉ thị, nghị quyết, hoá ra vẫn ẩn kín những phấp phỏng lo âu, những ái ố hỉ nộ của kiếp người. Tận góc thẳm sâu, trong đáy trái tim, trong góc não bộ, Cam vẫn luôn dành cho Cục, cho Chu, hai giọt máu oan nghiệt của đời chị một tình mẫu tử thiêng liêng.
Với Lê Kỳ Chu, Cam đã công khai ghi trong lý lịch công tác, khai bố Chu chính là đồng chí Lê Thuyết, một cán bộ cách mạng kiên cường bị Quốc Dân đảng giết ngay sau ngày chị có mang. Vì hoàn cảnh công tác, Chu phải gửi về ở với bà ngoại ở Mường Bi. Nhưng với Cục, giọt máu oan nghiệt với tên ác ôn Trương Phiên thì Cam phải giấu biệt. Cục là nỗi day dứt khôn nguôi của Cam. Đã có lúc chị muốn đầu thú với tổ chức. Muốn trở thành con người thật của mình. Muốn được công khai làm mẹ, làm bà. Rồi muốn ra sao cũng mặc. Chị sẽ đón vợ chồng con cái Cục về Mường Bi dựng một nếp nhà ở chung với Chu, nơi có phần mộ của người mẹ khốn khổ vừa mới qua đời.
Nhưng rồi Cam vẫn không thể thoát khỏi cái vỏ bọc của mình. Chị là con người của tổ chức. Cô Bướm ngày xưa đã chết từ cái buổi chiều rét mướt khi cô điên dại mang đứa con đỏ hỏn vứt bỏ ở búi tầm xuân ông Đống đầu làng Động ấy rồi. Nặng trĩu nỗi đau và sự ân hận, dày vò, Cam men theo bờ mương, cùng cô thư ký và anh tài xế đi thẳng ra bãi tha ma cuối làng.
Không cần ai chỉ dẫn, chị nhận ra ngay nơi Bính nằm. Cả bãi tha ma chỉ có một ngôi mả mới.
Anh tài xế châm hương, đưa cho chị, rồi cùng cô thư ký kính cẩn lùi lại, chắp hai tay đứng đợi. Cam cầm bó hương cháy giần giật trong gió, đứng lặng như trời trồng trước ngôi mộ mới.
"Con dâu của mẹ? Mẹ là Đào Thị Cam, mẹ đẻ của Quặc, mẹ chồng của con đây. Đau xót quá. Cứ tưởng rằng vợ chồng con sẽ sống yên ổn cùng các con con. Dù cuộc sống còn vô vàn khó khăn thiếu thốn, thiếu cả tình thương của mẹ, nhưng rồi cũng đắp đổi qua ngày, rồi cũng trôi qua những kiếp người. Vậy mà giặc Mỹ bỗng từ bên kia biển ập đến, giết hại con một cách dã man, tàn ác. Con ơi, mẹ không một ngày được ở bên con, được làm mẹ chồng con, cũng không một ngày được sống bên hai con và các cháu. Nhưng lúc nào mẹ cũng canh cánh một nỗi nhớ mong, lúc nào cũng cầu Trời Phật phù hộ cho các con.
Mất mát này quá lớn. Sao những người tốt như con, như ông Lý Phúc lại phải chết oan uổng, hả con? Mẹ cầu mong cho hương hồn con được siêu thoát. Con hãy phù hộ cho chồng và các con con trên cõi dương gian này…"
Cam san nửa bó hương cho anh lái xe đi cắm ở những ngôi mộ xung quanh. Chị tìm mộ ông Lý Phúc, thắp ba nén nhang cầu khấn. Phần nửa còn lại, chị cắm lên mộ Bính, và cứ ngồi phủ phục trước gò đất cho đến khi cô thư ký nhắc khẽ, chị mới như bừng tỉnh.
- Dạ, muộn rồi. Chúng ta có vào nhà gia chủ nữa không cô? - Cô thư ký nhìn đồng hồ hỏi nhỏ.
- Chúng ta vào nhà chia buồn với gia chủ em ạ. Anh Quặc là con trai cụ Lý Phúc, người đồng chí và cơ sở của ta hồi kháng chiến…
Cô thư ký trẻ lần đầu đi với nữ thủ trưởng về thăm cơ sở, thấy ngạc nhiên vô cùng về tính đa cảm và tình thương người của thủ trưởng mình trước gia đình người xấu số. Vừa nhìn thấy ba chiếc khăn tang trên đầu ba bố con, Cam đã xoà tay ôm lấy Cục cùng thằng Công, thằng Cài và khóc nức nở.
- Khổ thân các con cháu tôi. Giữa đường gà trống nuôi con… Còn thằng Cách, cái Ruộng đâu?
- Dạ cháu Ruộng ra Hà Nội với bác Khiêm, bác Vỹ. Cháu Cách sang ở với ông bà ngoại cháu… - Cục trả lời rồi dẫn chị Cam tới bàn thờ.
Cam thắp hương và đứng sụt sùi hồi lâu trước bài vị Bính. Không ai hiểu tâm trạng Cam lúc này. Một tâm trạng giằng xé đau khổ của người mẹ phải đóng vai một người khác, phải giấu mình đi trước ánh mắt thế gian, trước cả phần máu mủ ruột rà của mình.
Không gì có thể bù đắp cho Cục và các cháu, Cam mở túi sách lấy hết tiến trong túi dúi vào tay Cục.
- Thay mặt Hội Phụ nữ tỉnh, cô và các đồng chí trong cơ quan đến thắp hương Bính và chia buồn cùng gia đình… Còn đây là tiền của riêng cô. Cháu cầm lấy thêm cặp vào để nuôi các con… Ngày ông Lý Phúc còn sống, ông Lý coi cô như người trong nhà. Cháu hãy coi cô như một người thân. Bất cứ lúc nào khó khăn, cháu hãy báo cho cô…
Nói dứt những lời ấy, không kịp để Cục từ chối, Cam vội bỏ chạy ra xe.
***
Ô tô về đến cơ quan Hội Phụ nữ tỉnh cũng là lúc loa phát thanh trên ngọn cây sấu đầu nhà đang phát buổi thời sự cuối ngày. Cả nước đang sôi sục như một lò lửa. Đồng bào Nam Bộ thắng lớn ở Bến Tre, Củ Chi. Giặc Mỹ ồ ạt leo thang bắn phá Vĩnh Linh, Đồng Hới, Bến Thuỷ, Hàm Rồng, Hải Phòng, Việt Trì… Cả một làng chài bên cửa Nhật Lệ bị bom Mỹ huỷ diệt.
Đội nữ dân quân Ngư Thuỷ bắn đuổi tàu chiến Mỹ. Hàng vạn thanh niên nông thôn Thái Bình, Nam Định, Hà Tây… viết đơn bằng máu tình nguyện ra mặt trận. Một nghìn bốn trăm ba mươi sinh viên các trường Đại học Bách Khoa, Đại học Y khoa, Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm Hà Nội tình nguyện nhập ngũ… Tiếng phát thanh viên chưa dứt, đã vang lên tiếng hát Bích Liên với "Bài ca năm tấn": "Năm tấn thóc để góp phần đánh Mỹ. Ruộng đất quê ta không muốn nghỉ một ngày…"
Trong lúc Cam bật chiếc bóng đèn điện đỏ quạch ở hành lang và loay hoay mở cửa phòng, thì người bảo vệ cơ quan cứ quanh quẩn mãi mới dám đưa cho chị công văn thư từ trong ngày.
- Dạ thưa thủ trưởng. Có công văn khẩn của Thương vụ triệu tập sáng mai thủ trưởng sang họp gấp.
- Chuyện đào hầm hào và sơ tán đây mà. Trung ương vừa ra Nghị quyết về tình hình mới, triệt để sơ tán các cơ quan đầu não ra khỏi các trọng điểm đánh phá của giặc Mỹ. Tất cả các nơi đều phải đào hầm hào phòng tránh bom - Cam như biết rõ mọi chuyện - Buổi phát thanh thời sự báo hôm nay ta hạ bao nhiêu máy bay hả đồng chí?
- Dạ, mười một chiếc. Riêng Hàm Rồng bắn rơi tám chiếc. Hải Phòng hai, Vinh một.
- Rồi còn rụng như sung. Máy bay phản lực của ta từ Liên Xô đã về nước rồi.
Cam nói như đang đứng giữa hội trường, khiến người bảo vệ cơ quan cũng thấy mình như được truyền thêm năng lượng. Ông hắng giọng, móc trong túi áo một lá thư.
- Dạ, cậu thanh niên đến tìm thủ trưởng suốt cả buổi chiều. Cậu ấy có gửi thư lại cho thủ trưởng.
Cam thấy lạnh toát sống lưng, nhưng lòng lại nóng như lửa đốt. Lá thư trên tay Cam cứ rung bần bật.
Thư của Lê Kỳ Chu.
"Kính gửi mẹ,
Trường con có phong trào tình nguyện lên đường nhập ngũ. Bọn học sinh lớp mười tụi con không đứa nào thiết học nữa. Con đã viết đơn bằng máu xin được vào Nam chiến đấu để trả thù cho cha con và đồng bào bị giặc Mỹ giết hại. Hai ngày nữa chúng con sẽ tập trung tại huyên. Con đến chào mẹ trước khi lên đường. Nếu mẹ quá bận thì cũng chẳng cần phải về tiễn con đâu. Con lớn rồi, mẹ đừng lo gì cho con cả…
Con trai của mẹ.
Lê Kỳ Chu"
Mới đó mà đã mười tám năm. Giọt máu của Cam và Khôi, kết quả của cuộc tình vụng trộm ba ngày ở phố Phương Đình ấy, giờ đã là một chàng trai mười bẩy tuổi. Nếu không có mẹ, người đàn bà mà ông Cai Sâm đã nếm trái cấm để sinh ra Bướm rồi bán cho ông quan lang người Mường Bi lấy mười đồng bạc trắng hoa xoè, có lẽ số phận thằng Chu cũng chẳng hơn gì thằng Cục. May mà bà Bưởi, mẹ Cam lấy được người chồng nhân đức. Ông quan lang thất thế cuối đời sống ẩn dật với bà vợ ba trong một thung lũng đá vôi trắng xoá hoa mơ mỗi độ xuân về. Bà Ba Bưởi kịp sinh với ông quan lang hai người con, một trai một gái, trước khi ông quan lang ốm chết khi bị giam thời cải cách ruộng đất. Người ta gọi bà là Mế Ba.
Mế có nghề bốc thuốc lá chữa bệnh phù thũng, một phương thuốc gia truyền do ông quan lang để lại. Trong cái thung cũng heo hút, hoang dã và thơ mộng ấy, không mấy người biết Chu là con của Cam. Chính cậu bé Chu cho mãi tới sau hoà bình mới biết mình có một người mẹ. Chu gắn bó với Mế Ba, cậu Quách Liêu và dì Quách Thị Phin như mẹ con, anh em ruột.
Sau ngày Mế Ba mất, cũng là khi Cam đã có một vị trí xã hội, có tiêu chuẩn cán bộ cấp tỉnh, có nhà công vụ, nhiều lần chị đã định đón Chu về ở với mình. Nhưng rồi lại đắn đo nhiều lẽ. Chị thường xuyên phải đi công tác lưu động, xuống cơ sở rồi họp hành liên miên, quản lý một cậu con trai hiếu động không dễ chút nào. Vả lại, tuy có nhà công vụ, nhưng cũng chỉ một gian trong khu tập thể, kê vừa một giường cá nhân, một bàn làm việc, một bàn nước tiếp khách. Đón Chu về ở, sẽ phải trình bày đủ lý do hoàn cảnh với tổ chức, phơi hết quãng đời tư vốn thầm kín và thiêng liêng của mình, Cam không muốn.
Và còn lý do này nữa, lý do tưởng như vụn vặt, chẳng có cơ sở, chứng cớ gì nhưng lại khiến Cam băn khoăn lo lắng hơn cả.
Ấy là sự giống nhau giữa Lê Kỳ Chu và Nguyễn Kỳ Khôi như khuôn đúc. Kỳ lạ, sao cá hai đứa con của Cam đều giống bố chúng đến lạ lùng. Thằng Cục, nếu đứng cạnh Trương Phiên, có khác gì hai phiên bản của cùng tác giả. Thằng Chu còn giống Khôi hơn nữa. Sau này, Cam đọc một tài liệu viết rằng, những cuộc tình lén lút, những cuộc giao phối vụng trộm, thường đẻ những đứa con có tính gien trội, hoặc giống bố, hoặc có những tố chất đặc biệt. Cho tới khi Cam đã biết chắc đồng chí Chiến Thắng Lợi, người thường xuyên về làm việc với lãnh đạo tỉnh, thường xuyên đến các hội nghị phụ nữ giảng bài, chính là chàng trai Nguyễn Kỳ Khôi người làng Động thì chị hoàn toàn loại bỏ dự định đưa Chu về thị xã ở với mình. Cam lo sợ tổ chức sẽ biết một quãng đời mà chị đã giấu kín, đã muốn phi tang. Một cán bộ chủ chốt như Cam không cho phép khai man lý lịch, giấu giếm tổ chức một điều gì. Cam sẽ phạm vào giới luật, vi phạm lời thề thiêng liêng. Tổ chức sẽ không tha thứ nếu biết Chu là con đẻ của Chiến Thắng Lợi. Sẽ mất hết. Cả mấy mươi năm gian khổ nằm gai nếm mật đi theo cách mạng. Cả địa vị xã hội, tiền đồ, tương lai của bản thân mình và những người thân… Điều lo lắng của Cam còn liên quan cả đến Chiến Thắng Lợi. Ông ta cũng sẽ mất hết. Một địa vị như thế, mấy ai dám mơ tưởng? Tuy hận thù, khinh bỉ, nhưng trong sâu thẳm lòng mình, Cam vẫn dành cho Lợi một góc yêu thương. Đó tưởng như mâu thuẫn, nhưng cũng là đạo lý người của chị.
Sau hai ngày học nghị quyết, Cam về đến Mường Bi, thì Lê Kỳ Chu, ngay đêm trước, đã theo đơn vị bí mật lên đường.
Chu đi đâu?
Cam hụt hẫng, tưởng đất dưới chân mình đổ sụp. Đứa con của chị, giọt máu và sự kỳ vọng duy nhất của chị, lại giống như Bính, đứa con dâu xấu số, sẽ làm mồi cho bom đạn giặc Mỹ ư?
***
Sau cả tuần tìm kiếm, bằng đủ mọi nguồn thông tin, qua chằng chịt những mối quan hệ, cuối cùng Cam phong thanh biết rằng Chu đang đóng quân ở vùng Suối Hai, Sơn Tây.
Anh được phiên chế vào một đơn vị đặc biệt, sẽ được huấn luyện cấp tốc ba tháng để chuẩn bị vượt sông Bến Hải trước mùa mưa.
Bản tính kiêu hãnh và gan góc không thua kém gì đàn ông của Cam, cộng với lý tưởng sáng ngời, lập trường kiên định, ý chí xả thân do tổ chức rèn cặp bao năm, cuối cùng cũng không thắng nổi trái tim mềm yếu của người mẹ. Chấp nhận để Chu đi chiến trường, đối đầu trực diện với bộ máy chiến tranh tàn bạo và hiện đại nhất của đế quốc Mỹ, tức là Cam đã cầm sẵn tấm giấy báo tử của Chu. Không! Dù Cam có bị loại khỏi tổ chức, tước hết mọi quyền lợi, địa vị, bị sa thải về quê chị cũng không thể để con trai chị đi vào chỗ chết. Cả đời chị chỉ còn mình nó. Chị đã chịu nhiều hy sinh, cay đắng để mong nó được nên người. Với học lực xuất sắc và tư chất thông minh, năm nào cũng đứng đầu lớp, chỉ hơn tháng nữa nó sẽ tốt nghiệp lớp mười. Cậu tú tài của Cam sau đó sẽ vào đại học, sẽ được gửi đi đào tạo ở Liên Xô, Trung Quốc, sẽ trở thành kỹ sư, bác sĩ… Hỏi có đứa trẻ nào thiệt thòi, chịu nhiều bi kịch mà tự phấn đấu vượt lên như nó không? Có phải chị đi làm cách mạng cũng là vì nó không? Nó là lẽ sống, niềm hạnh phúc, nơi gửi gắm mọi ước vọng của đời chị. Chị sẽ không xứng đáng là người mẹ, chị sẽ chỉ là kẻ có trái tim bằng phân trâu mới cam chịu nhìn con mình phơi xác giữa rừng.
Giữa lúc đau đớn, giằng xé ấy, Cam nghĩ đến Chiến Thắng Lợi. Chỉ có Lợi mới có thể cứu được Chu ra khỏi guồng máy chiến tranh. "Nếu chúng ta có con, thì giờ là lúc tôi có điều kiện chuộc tội lỗi. Bằng bất kỳ giá nào, tôi sẽ lo cho con". Câu nói của Lợi khi đến thăm Cam ốm ở khoá chính trị cao cấp ấy, luôn văng vẳng trong đầu, Cam thức trọn đêm để viết cho Lợi một lá thư dài tám trang giấy pơluya. Nhưng rồi chị lại xé nát. Chị phải trực tiếp gặp Lợi.
Lần đầu tiên Cam đặt chân đến cổng cơ quan Ban X. Nhìn cơ ngơi, trạm gác, phòng trực ban, chị hiểu ngay vị thế và vai trò của đồng chí Chiến Thắng Lợi.
Chiếc sân rộng đỗ chật các loại xe con mang biển số khắp các tinh. Phía trước tiền sảnh, một dãy xe tải, xe commăngca đang chất tài liệu, bàn ghế, đồ đạc chuẩn bị đến noi sơ tán. Không phải một cơ quan quân sự, nhưng nơi đây luôn như đại bản doanh của mọi chiến dịch.
Người đầu tiên Cam gặp ở phòng khách là Văn Quyền, trợ lý đắc lực của Chiến Thắng Lợi. Quyền đang nói chuyện gì đó với nhà văn Đà Giang vừa từ dưới tỉnh lên.
- Kìa chị Cam. Chị đến họp hay có việc gì? - Quyền xăng xái đứng lên bắt tay Cam. Cam cố nở nụ cười xã giao, nhưng ánh mắt chị lại nhìn về phía người khách của Quyền.
- Hình như nhà văn Đà Giang…? - Cam đi lại chỗ người khách.
- Tôi tưởng chị đã quên - Đà Giang kéo ghế đứng lên, trên tay vẫn cầm chiếc điếu cày, lúng túng mãi anh mới chuyển sang tay kia để đáp lại cái bắt tay đang đợi.
Với Đà Giang thì Cam quá quen thuộc. Nhà văn hóm hỉnh lúc nào cũng cặp kè bên tay cuốn sổ ghi chép và chiếc điếu cày này, chị đã từng gặp trong Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua. Anh ta xoay Cam đến chóng mặt với những câu lục vấn tỉ mẩn từ chuyện hoạt động hai mang trong vùng địch hậu đến cả những chuyện đời tư, yêu đương, con cái… Cam nhớ, lần đầu tiên Cam nói với một người không thân thiết về một phần đời tư về cậu con trai Lê Kỳ Chu của mình. Sau lần gặp ấy, một truyện ký với tựa đề "Người đẹp Sơn Minh hay là huyền thoại về Ni cô Đàm Hiên" ký tên tác giả Đà Giang đăng trên tạp chí Văn, khiến từ đó đến đâu, Cam cũng được người ta cũng chỉ trỏ, bàn tán xì xào.
- Anh gán cho tôi một cái tên làm tôi ngượng chín cả người, đến giờ cũng không dám xuất hiện trước đám đông - Cam nhắc Đà Giang nhớ lại bài viết ngày nào.
- Nếu được viết thêm về chị, tôi sẽ chua thêm rằng bây giờ Người đẹp Sơn Minh còn đẹp hơn cả ngày xưa…
Văn Quyền vỗ vai Đà Giang, thầm công nhận sự dẻo mỏ của anh nhà văn nổi tiếng có duyên tán gái. Rồi đột ngột Quyền chuyển câu chuyện:
- Nếu chị cần gặp thủ trưởng Lợi thì tranh thủ lên ngay đi. Mười giờ thủ trưởng có cuộc họp với Anh Tư. Để tôi lên báo cáo trước với thủ trưởng.
Qua cách nói, đủ thấy Văn Quyền hình như đoán biết mối quan hệ giữa người đẹp Sơn Minh và thủ trưởng của mình.
Chiến Thắng Lợi quá bất ngờ khi Cam đến gặp. Lạ thế, đã được Quyền báo cáo trước, mà cho tới lúc nhìn thấy Cam xuất hiện ở cửa phòng, mặt Lợi vẫn tái nhợt, chưa qua khỏi cơn choáng váng.
- Cam gặp tôi có việc gì cần kíp lắm phải không?
Cam tự kéo ghế ngồi. Chính chị cũng đang rất bối rối không biết nên mở đầu thế nào.
- Tôi sẽ bố trí gặp Cam vào lúc khác, ở một nơi khác cho thoải mái nhé? Tôi đang chuẩn bị cho cuộc họp gấp với Anh Tư.
Lợi nhìn quanh, rồi đi ra chốt cửa lại.
- Anh cứ mở cửa ra. Tôi đến đây không có gì khuất tất. Anh ngại gặp tôi ở đây lắm phải không? Sợ tổ chức hay sợ cô Là vợ anh?
Lợi lại đi ra mở chốt cửa, nhưng vẫn thận trọng khép hờ. Rồi Lợi rót nước và nhìn đồng hồ.
- Thôi được. Tôi có thể tiếp Cam ba mươi phút. Rồi chúng ta sẽ gặp nhau tiếp. Tất nhiên là ở một nơi kín đáo và thuận tiện. Tôi cũng có nhiều chuyện cần nói với Cam…
Đôi mắt Cam sầm tối, tựa hồ vừa bị một cơn choáng. Anh ta sợ gặp mình. Anh ta muốn trốn chạy quá khứ. Chị nhận chân quá rõ sự hèn kém trong con người Lợi. Có còn trông mong gì ở con người vừa thề non hẹn biển, đã lại rũ bỏ ngay những gì thiêng liêng nhất của mình? Giá như có thể, Cam đã nôn oẹ, đã nhổ một bãi nước bọt mà rũ áo đứng dậy, đi, không bao giờ ngoảnh lại. Suốt mười tám năm qua, nhục nhã, ê chề, cay đắng… mà Cam còn bất cần, còn dám ngẩng cao đầu, thì hà cớ gì, bây giờ, chị phải cầu xin, quỵ luỵ.
Cam đứng vụt lên.
- Kìa Cam, bình tĩnh đã nào. Có chuyện gì, cứ nói. Tôi sẽ gọi điện báo cáo với đồng chí Tu Vuông xin chậm lại một giờ…
Cái chạm tay, rất nhẹ của Lợi, làm cơn hoả trong đầu Cam dịu lại. Chị cố trấn tĩnh, tự nhủ thầm: Vì con, mẹ đành nhẫn nhục.
Đợi Lợi quay số điện thoại, nói với ai đó ở đầu dây bên kia xong, Cam nói, giọng lạnh băng:
- Tôi chỉ xin anh mười lăm phút thôi - Chị lấy trong túi xách ra một tấm ảnh chân dung đen trắng khổ bằng bàn tay, đặt trước mặt Lợi - Anh có nhận ra ai đây không?
Mắt Lợi mở to hết cỡ, nhìn như hút lấy tấm ảnh.
- Cam vẫn giữ tấm ảnh tôi ngày ấy?
- Anh lầm rồi. Tôi đã đốt tấm ảnh Nguyễn Kỳ Khôi từ sau ngày gặp anh ở Phương Đình. Anh nhìn kỹ lại xem. Giống anh lắm phải không? Nó đấy. Lẽ ra tôi không bao giờ cho anh biết điều này…
Cam bỗng bật khóc. Nhưng rồi chị nhanh chóng lấy mùi soa chấm mắt, cầm lại tấm ảnh, cất vào túi xách.
Người Lợi run như cơn sốt rét rừng ngày nào bỗng ập về. Tiếng anh méo đi:
- Thật vậy sao? Có đúng là con chúng ta không em? Nó đang ở đâu?
- Anh hãy bình tĩnh… Tôi đặt tên nó là Lê Kỳ Chu. Họ Lê là anh Lê Thuyết. Họ Chu của tôi. Chỉ có một chữ Kỳ của anh thôi nhưng ngay chữ tên đệm ấy, anh cũng đã vứt đi rồi. Tôi biết anh không muốn và không cần có nó. Nó sẽ là gánh nặng trong cuộc đời cách mạng của anh, thậm chí sẽ là vật cản trên bước đường anh thăng tiến. Nhưng với tôi, nó là tất cả.
- Tôi hạnh phúc vô cùng, Cam ạ. Linh tính luôn báo với tôi rằng, giữa tôi và em có một sự gắn kết thiêng liêng… Tôi đã từng nói với em, bằng bất kỳ giá nào tôi cũng lo cho con, nếu chúng mình có chung một giọt máu…
- Không cần phải như thế. Tôi tin, chỉ ít phút nữa, khi bình tĩnh lại, anh sẽ muốn rút lại đề nghị ấy của mình. Bởi nếu chuyện thằng Chu vỡ lở ra, hạnh phúc gia đình anh sẽ tan vỡ. Anh sẽ mắc tội man trá với tổ chức. Anh sẽ mất hết. Có bao nhiêu kẻ sẽ lợi dụng sự việc này để giành lấy chiếc ghế của anh…
Mồ hôi vã ra trên trán Lợi.
- Cả tôi cũng sẽ mất hết. Chúng ta đều quá hiểu sự nghiêm khắc của tổ chức… Vì thế chuyện này chỉ riêng anh biết. Tôi đã viết cho anh một lá thư dài. Nhưng thấy giấy trắng mực đen là quá nguy hiểm nên đã xé đi và buộc phải đến gặp anh hôm nay.
- Có chuyện gì xảy ra với con?
- Đây là câu chuyện có liên quan đến sinh mạng của nó. Tôi gặp anh để nói với anh rằng, bằng mọi cách anh phải làm thế nào để nó không phải đi chiến trường.
- Vậy ư? Nó đang ở đâu?
- Tôi hết sức bất ngờ về quyết định nhập ngũ của nó. Tôi gửi nó học ở Mường Bi. Còn hơn tháng nữa sẽ tốt nghiệp cấp ba thì nó viết đơn bằng máu, tình nguyện đi bộ đội. Hiện nó đang ở một đơn vị huấn luyện đặc biệt ở Suối Hai, Sơn Tây. Ba tháng nữa người ta sẽ đưa nó vào mặt trận.
Lợi cúi gục xuống bàn, hai tay ôm lấy đầu.
- Tôi không thể làm được việc này vì nó là con tôi, nó lại viết đơn tình nguyện. Mà chính tôi, người mẹ đẻ của nó, lại là người đang hô hào động viên thanh niên lên đường tòng quân giết giặc.
Lợi ngẩng lên, như kẻ vô hồn. Cái lắc đầu nhẹ của anh không qua được ánh mắt Cam.
- Buộc phải nói với anh chuyện này là tôi đang ở bước đường cùng. Thằng Chu là tất cả đời tôi. Không còn nó, tôi sống vô nghĩa.
Lợi biết mình đang nghe một tối hậu thư.
- Tôi đã nghĩ đến phương án mình phải lên báo cáo hết sự thật với Ban Tổ chức trung ương. Nhưng nếu nói nó là con của anh Lê Thuyết thì vừa tủi cho nó, vừa xúc phạm đến linh hồn của người đã khuất.
- Đừng tôi xin Cam, đừng làm thế… Để tôi lo việc này! Cam viết cho tôi họ tên, ngày tháng năm sinh của con, cả địa chỉ nơi con đang đóng quân.
Đã chuẩn bị sẵn những điều Lợi cần ra một tờ giấy, Cam chỉ việc lấy trong cuốn sổ công tác đưa cho Lợi.
- Cho tôi xin tấm ảnh của con - Lợi tần ngần, khi thấy Cam định đi.
- Anh chẳng cần giữ ảnh nó làm gì - Cam cất tấm ảnh vào túi xách - Nhờ anh chỉ một lần này thôi. Hãy để thằng Chu tin rằng cha nó đã hy sinh.
Đôi mắt Cam hoe đỏ. Chị nói như hụt hơi và bước nhanh ra khỏi phòng.
(Còn nữa)