MÙA XUÂN KHÔNG CÒN
Hoa-Hoàng-Lan

... “Tôi qua đây mùa Xuân
Nghe lòng xao xuyến, bâng khuâng.
Tôi qua đây chiều mưa
Nghe lòng mơn man niềm nhớ.
Tôi qua đây mùa Thu
Hoa tàn rụng trên hè phố.
Tôi qua đây mùa Đông
Nắng buồn hiu hắt bên song.”
Lời nhạc Thanh-Trang.
Lợi dụng mấy ngày nghỉ của cuối năm 2007, tôi trở lại thành phố mang tên King City sau gần bốn năm xa cách để tìm tung tích của Harris. Tự nhiên tôi nhớ chàng da diết và tôi muốn có chàng.
King City là một thị trấn nhỏ, nằm khép nép sâu bên quốc lộ 101 của tiểu bang California phồn thịnh. Đa số dân cư sống bằng nghề trồng trọt trù phú, chế biến và cung cấp hoa mầu cho những vùng lân cận .
Bao nhiêu lâu rồi, thành phố vẫn tĩnh lặng với những nét buồn muôn thuở. King City buồn lắm, nếu bạn là người từ xa đến. Nhưng nếu bạn là người địa phương, chắc chắn bạn sẽ không biết buồn, vì bạn đã trầm mình trong nỗi buồn man mác đó rồi. Vâng, thành phố có nét buồn nhẹ nhàng, nhưng vô cùng thấm thía. Buồn đến chẳng muốn đi đâu, chỉ muốn ngồi yên đấy, để nghe nỗi buồn ung dung, uyển chuyển, chiếm ngự hồn mình một cách say sưa, thích thú.
Mùa Xuân năm ấy, tôi đã trôi dạt đến đây trong một dịp may hãn hữu. Một người bạn thân có mẹ già ở tận bên Pháp, muốn tôi coi sóc giùm chị cửa hàng nhỏ, để chị rảnh rang bay sang trời Tây lo trả hiếu cho mẹ. Vừa có dịp thực tập chút kiến thức về buôn bán của mình, vừa có chút tiền tiêu. Tôi hoan hỷ nhận lời và khăn gói bay sang King City.
Đường phố King City tĩnh lặng một cách lạ lùng. Vài chiếc xe chạy không vội vàng, những cư dân sinh hoạt nhẩn nha và thư thả. Xe cộ tự động nhường nhau mà chẳng cần đèn xanh đỏ. Làm như thời gian đã không có giới hạn, và tôi có cảm tưởng ba chiếc kim trên những đồng hồ ở đây như bầy trẻ nhỏ ham vui, còn đang mải mê hái hoa bắt bướm, rong chơi đâu đó trên cánh đồng cỏ bên ngoài, không quay về chăm chú làm công việc chỉ giờ giấc của mình. Nhờ thế mà ngày ở King City rất dài, rất lâu và... và tình yêu của tôi với Harris đã đẹp như trong mơ, tình tứ như trong truyện tình diễm tuyệt.
Mùa Xuân - phải chờ đến mùa Xuân năm đó - tôi mới rộn ràng thấy rằng mình cần một tình yêu. Hơi muộn với tuổi gần bốn mươi. Nhưng cũng không sao. Bởi vì, nếu tôi cần tình yêu sớm hơn, nhất định tôi đã không gặp Harris. Và nếu tôi choàng giấc ngủ con gái của đời tôi muộn hơn, người tình tuyệt vời của tôi không thể là Harris được. Tôi cảm ơn đất trời. Tôi cảm ơn King City đã cho tôi có Harris suốt những ngày dài tràn trề hạnh phúc và nồng nàn ân sủng của tình yêu. Chàng làm công việc chăm sóc trong một nông trại. Tôi không thắc mắc về nghề nghiệp của chàng. Chỉ biết rằng giữa trời nắng ấm của mùa Xuân ở King City, cơn giông bão bất chợt nào đó đã đem đến một tiếng sét – chỉ duy nhất một tiếng thôi - mà cột thu lôi của thành phố đã không chuẩn bị đón nhận, nên tiếng sét đó đã rơi ngay trên đầu tôi, trên áo tôi, trên mình tôi, trên tóc tôi, trên má tôi, trên môi tôi, trên da thịt tôi và định cư trong trái tim phập phồng, thổn thức của tôi. Bởi vì ngay khi chàng bước vào tiệm, tôi đã thấy lòng tôi rộn ràng, tim tôi rúng động và trí tôi chập chùng với muôn đợt sóng vỗ bờ.
Khi cây cỏ khoe mầm xanh, khi những hoa lá trên cành rộn ràng căng sức sống, đấy là lúc tâm hồn tôi phong phú để gặp và yêu chàng. Cơ thể tôi phổng phao lên để dâng hiến chàng những gì tình yêu đòi hỏi. Tình tôi yêu chàng ngút ngàn như thảm cỏ xanh ngắt đang chạy dài mút mắt ngoài kia. Những con bò nhẩn nha gặm những vạt cỏ non. Tôi vội vã và mê mải thưởng thức mảng tình yêu của chàng. Chỉ nội buổi chiều đó, đưa người khách cuối cùng ra về, sau khi móc tấm bảng mang chữ “Close” trên khung kính, tôi đóng cửa tiệm và tay trong tay cùng chàng đi lang thang đâu đó trong khắp thành phố. Khuya thật khuya, chúng tôi mới chia tay, nhưng thật ra, tôi đã đem chàng vào trong giấc ngủ bằng cửa ngõ của giấc mơ. Tôi luôn mơ thấy chàng tay trong tay, cùng tôi đi hết trọn con đường đời trước mặt.
Chàng có bàn tay nhỏ, với những ngón tay thon và ấm áp. Tôi ngơ ngẩn tự hỏi làm sao bàn tay này làm việc nông trại được nhỉ? Để năm ngón tay mình nằm gọn trong bàn tay chàng, tôi buột lên với ý nghĩ tinh nghịch:
“Bàn tay anh mà học bác sĩ sản khoa thì... hay lắm. Đỡ đau người ta...”
“Nghĩa là...”
“Nghĩa là anh sẽ làm công việc chăm sóc thai nhi, sản phụ và giúp những bà mẹ đưa những em bé ra chào đời.”
“Anh chịu thôi. Đừng dại, đưa anh vào nghề đó. Ngồi suốt ngày trong văn phòng, anh sợ lắm. Anh thèm những thảm cỏ xanh đến tận chân trời. Anh yêu thích những bình minh rực rỡ và những hoàng hôn tắt nắng ngoài kia. Anh thích đi, đứng, chạy, nhẩy. Bốn bức tường không thể nào cầm chân anh được. Vả lại, có sung sướng gì nghề thăm thai, đỡ đẻ. Suốt ngày chỉ chăm chăm có chừng đó. Mau chán lắm cưng ơi! Giầu có, nhưng anh sẽ bỏ nghề như chơi!”
Tôi không hài lòng: “Nhưng nhàn và không giang mưa, đội nắng.”
Chàng cười và bóp chặt năm ngón tay tôi:
“Trời ơi! Mưa nắng là bạn của anh mà em. Gần bốn mươi năm qua, không có mưa nắng thì làm sao anh sống? Em phải biết rằng phải chịu mưa, bị nắng thì mới thưởng thức bốn mùa được. Em ở đây lâu, rồi sẽ thấy. Những con người King City mà không có mưa nắng thì làm sao chịu được? Phải đầu đội trời, chân đạp đất em ơi!”
Những buổi chiều sau đó, chúng tôi mỗi ngày một thân nhau hơn, gần nhau hơn và hình như không thể thiếu nhau mỗi khi nắng tắt, khi bóng đêm phủ chụp trên thành phố King City. Những cửa hàng lần lượt đóng cửa và nhường chỗ cho vài sinh hoạt về đêm. Dọc đường phố, thưa thớt những chiếc xe đậu xiên xiên với nhau. Chàng tìm một chỗ đậu xe không khó. Chúng tôi lại tay đan tay, dựa vai đi bên nhau. Cửa hàng bán thức ăn nguội duy nhất ở đây có đông khách ra vào. Những người đàn ông mua vội gì đó cho bữa ăn tối, để xong một ngày mệt nhọc.
Rồi những ngày hè nóng nực đã đến. Có lẽ mùa hè ở King City chói chang hơn mùa hè ở các nơi. Chàng đến với tôi với vẻ mệt mỏi nhiều hơn. Tại thời tiết hay tại công việc? Có lẽ tại cả hai. Nhưng chàng vẫn yêu tôi đằm thắm và giữ nụ cười tươi trên môi là được rồi. Tôi không đòi hỏi gì thêm. Vì tôi biết rằng hãy tự kiềm chế, có đòi hỏi cũng không được gì thêm. Bởi chàng đã cho tôi hết rồi. Tôi và chàng đã dốc ống cho nhau, đã tiêu hết những đồng tiền tình yêu cuối cùng. Giữ lại làm gì, bởi vì tôi chẳng thể nào ở lại đây lâu hơn, khi chị bạn về. Trừ khi chàng giữ tôi ở lại đây. Bằng một đám cưới chăng? Không biết thành phố King City nhỏ bé này, người ta có cho phép cô dâu đã gần bốn mươi tuổi làm đám cưới không? Tôi bật cười với câu hỏi vớ vẩn, và vô lý. Tôi lay tay hỏi chàng:
“Anh! Ở đây, người ta có cho phép phụ nữ gần bốn mươi tuổi lấy chồng không nhỉ? Như em đây chẳng hạn.”
Chàng dừng chân ngay trên lối đi. Rồi nghiêng người, tròn mắt, chàng nhìn tôi như muốn tia nhìn xuyên qua áo quần trên người tôi:
“Chắc là không rồi a! Người ta không cho gái xứ lạ đến đây, “chớp” được một đấng nam nhi rồi chạy đi chỗ khác. Ai dại cho phép em làm như vậy? Người ta cần người làm việc ngoài kia. Ai ở đó mà chơi trò vợ chồng với em? Mà, ai muốn cưới em vậy?”
Tôi giẫy lên: “Anh hỏi kỳ cục! Miễn sao có người chịu thì thôi chớ?” – Rồi hạ giọng, tôi hỏi nhỏ – “Bộ anh không muốn... cưới em hay sao? Hay để cho người khác làm công việc đó vậy?”
Đến lượt chàng giẫy lên. Đôi chân mày nhướng cao, chàng thủ thỉ: “Có ai mà điên như vậy đâu? Nhưng anh thì... được!”
Tôi kiễng chân, vít cổ chàng xuống và thưởng chàng một nụ hôn thật ngọt.
Chàng liếm môi và bật hỏi: “Em có biết do đâu mà có cái hôn không?”
Tôi lắc đầu, chịu thua. Chàng bật cười, “lên lớp” tôi ngay: “Không bao giờ chịu đọc sách báo cả. Chuyện thế này, nghe kỹ mà nhớ đấy! Mai kia, hỏi lại mà ấp úng là chết đó! Ngày xưa, chưa có những tiện nghi hiện đại như máy sưởi bằng điện, bằng “ga” như bây giờ. Trước mùa đông giá rét của thiên nhiên, con người rất sợ lạnh. Để chống lại cái lạnh trong mùa đông giá, người ta hay uống rượu. Vì rượu làm cho ấm người. Nhưng đàn ông uống chút rượu, để có thể tăng năng suất làm việc. Còn đàn bà thì không được. Nhất là các bà nội trợ. Rượu vào, làm cho các bà bỏ bê công việc nhà, và xao lãng chăm sóc con cái. Vì thế có phong trào khuyên các bà vợ bớt uống rượu.
Mỗi khi đi làm về, để kiểm soát xem vợ ở nhà có uống rượu, ông chồng thường kê mũi sát miệng vợ để ngửi xem có mùi rượu không. Để chứng tỏ
mình ngoan, nhiều người vợ cũng kiễng chân, kê miệng mình sát mũi chồng để khoe “Mình nè! Ở nhà, em không uống rượu đó nghe! Em chờ mình về để... cùng uống với mình!” Có những cô vợ đùa nghịch, chạm đôi môi mình vào môi chồng, hoặc tình tứ và âu yếm hơn nữa, ngậm chặt môi chồng. Lâu dần thành thói quen và cái hôn môi ra đời trong hoàn cảnh như vậy.”
“Hay quá! Anh có lối nói chuyện rất hay. Em nghe say mê và bỗng muốn được anh kiểm soát nồng độ rượu trong em hoài.”
“Anh không rảnh để làm công việc của một cảnh sát tuần tra công lộ. Anh hôn là anh hôn à! Không kiểm soát gì hết!”
Nói rồi, chàng vội nghiêng trên tôi. Đôi môi chàng xoắn chặt đôi môi tôi để... tìm mùi rượu của tình yêu.
Mùa Thu với những cơn gió lạnh, trút những lá vàng ngập trên đường phố. Chúng tôi vẫn thật ấm bên nhau. Chị bạn tôi vẫn còn say mê kinh đô ánh sáng Paris, nên thư về dặn dò tôi trông coi cửa hàng giúp thêm vài tháng nữa. Không sao. Bây giờ thì dễ rồi. Không khó khăn như lúc mới đến, lạ nước lạ cái. Nếu bây giờ chị muốn sang cửa tiệm, cho tôi trả góp dần dần, tôi chịu liền. Ít ra, tôi cũng có công việc làm, để có lý do ở lại thành phố này. Ít ra, tôi cũng có cơ hội để không rời xa chàng. Và ít ra, tôi vẫn có thể khoe với những người dân hiền lành ở đây rằng tôi đã là của chàng, chàng đã là của tôi và chúng tôi đã là của nhau. Chàng là tất cả mùa Xuân của tôi.
Một buổi chiều nhạt nắng. Cửa hàng tôi vắng khách quá. Buồn bã, tôi liếc nhìn đồng hồ, còn khá lâu mới đến giờ đóng cửa và chờ chàng đến để cùng nhau về. Thói quen đó đã nhiễm sâu trong tôi, để bây giờ tôi tự hỏi nếu không có chàng, thì làm sao tôi biết đường về nhà? Tôi buồn, nhớ chàng da diết, thì cửa bật mở. Một người bạn của chàng xô cửa vào như một cơn lốc. Không kịp chào hỏi, anh nói ngay:
“Harris đánh nhau và rút súng bắn một người trọng thương. Cảnh sát đã còng tay bắt đi.”
Rồi vội vã bước ra, để mặc tôi đứng như chôn chân xuống sàn nhà. Tôi hốt hoảng chạy theo để hỏi thêm. Nhưng không kịp. Chiếc xe đã lao đi rồi. Tôi quay vào và đột nhiên òa khóc. Giọt nước mắt đầu tiên kể từ ngày hai đứa quen biết và yêu nhau.
Đóng cửa tiệm vội vã, tôi ra trạm cảnh sát độc nhất của thành phố, cách đó khá xa, trên tỉnh lộ. Viên cảnh sát tiếp tôi và có thể, sẽ cho tôi gặp chàng. Tôi hỏi lý do của việc xô xát, ẩu đả, dẫn đến việc nổ súng.
“Nghe nói hai người dành nhau một cô gái trong quán rượu.”
Tôi đau đớn, bật khóc và la lên khi viên cảnh sát dứt lời: “Trời ơi, Harris! Cái gì? Ông nói sao?”
Viên cảnh sát nhẫn nại lặp lại:
“Qua lời khai của những người trong quán rượu thì Harris và một người nữa cùng thích một cô tiếp viên. Lời qua tiếng lại sao đó, người kia toan nhào đánh Harris và chàng chụp cây súng của khách để trên bàn, bắn trọng thương kẻ kia. Nếu kẻ kia có bề gì, thì chắc chắn Harris sẽ rất phiền phức. Tội nghiệp, chúng tôi biết Haris hiền lành và đang là bạn trai thân thiết của cô.”
Quá bất ngờ. Bỏ cả ý định gặp Harris, quên cả cảm ơn và chào hỏi viên cảnh sát tốt bụng, tôi thẫn thờ ra về, loạng choạng như một gã say. Nhưng dẫu có lòng tốt đến đâu, ông ta cũng không thể giúp chàng xóa được lỗi lầm và giúp cho tôi tránh được những đổ vỡ trong tình yêu với chàng, khi tội danh “dành nhau một cô gái” còn rõ rệt như thế kia.
Tôi ủ rũ, rã rượi trên căn gác trọ, nhưng vẫn phải cố gắng gọi điện thoại cho chị bạn mãi tận bên Paris để báo cho chị biết tôi buộc lòng phải đóng cửa tiệm để chờ chị về. Tôi phải rời thành phố King City ngay tức thì, trước khi nhìn mặt cô tiếp viên của quán rượu mà chàng dành giật đẹp, xấu như thế nào. Chắc hẳn phải “xếch-xi” lắm, vì nhiều lần chàng muốn chuyện đó với tôi, nhưng tôi không chịu. “Để dành ngày cưới, anh ạ!” Tôi không chịu, thì Harris phải đi ra ngoài chứ sao nữa? Chàng cũng là người chứ bộ! Chàng có phải là Thánh đâu? Đàn ông ai mà không thích chuyện đó. Chỉ khác nhau là thích nhiều hay thích ít thôi.
*
Tôi ghé vào một cửa hàng quen. Bà chủ tiệm còn nhớ tôi. Bà mừng rỡ khi nhận ra tôi. Đặt cả bàn tay lên ngực tôi, bà đẩy tôi ra xa mà la lên rằng: “Trời đất! Đi đâu mà lặn mất tiêu mấy năm nay. Coi thử có gì thay đổi không nào?”
Bà ngắm nghía và cười tủm tỉm như muốn khám phá những khác lạ trên người tôi. Nắm chặt bàn tay tôi, bà cười to: “Đẹp ra, nhưng hơi buồn. Hình như vẫn đơn chiếc phải không?”
“Sao biết hay vậy? Bộ bà là... thầy bói hay sao?”
“Dễ ợt cưng ơi! Nếu đã có đôi có cặp, tại sao em lại đi lạc lõng một mình trong thành phố này của tôi?”
Như bị xoáy vào vết thương, tôi ỉu xìu để bàn tay tôi nằm yên trong bàn tay bà, miệng tôi cố gắng lắm mới thốt được mấy tiếng cần thiết để cho bà rõ vì sao tôi trở lại King City của bà: “Tôi muốn tìm Harris.”
Chỉ mấy tiếng thôi, nhưng sao tôi thấy vô cùng khó khăn khi thốt ra. Chợt bà nhíu mày và hạ thấp giọng đủ cho tôi nghe:
“Đừng buồn khi biết tin này. Tôi biết nếu tôi không nói, thì cũng có người nói cho em nghe. Harris á hả? Vừa ra tù năm ngoái, và mới làm đám cưới với con nhỏ tiếp viên năm xưa mà hắn dành giật.”
Bà dè dặt nhìn tôi khi thấy tôi vừa quay mặt đi. Tôi chớp mắt, bậm môi, thả tầm mắt, nhìn mông lung ra ngoài cửa. Khung trời mùa Đông xám xịt, buồn bã. Cây hai bên đường trơ xương và rũ buồn. Như lòng tôi vừa thật sự mất Harris. Có thêm vài người khách nữa vừa bước vào. Tôi bước nhanh ra cửa, sau khi nói lời chào từ giã, trước đôi mắt ngạc nhiên, dò hỏi của bà.
Hoa-Hoàng-Lan