CHƯA CÓ CÂU TRẢ LỜI
Hoa-Hoàng-Lan
Để Tưởng Nhớ Ba Má Phi-Anh và Dì Trần-Thị-Nết.
Đối với mọi người thì Ba chồng tôi có tất cả ba mươi hai người con. Tôi vẫn nghe người dân Hội An công khai nói với nhau như thế. Và tôi nghĩ là con số
ba mươi hai đó đã nói quá đáng về số con của Ba chồng tôi. Nhưng đó là lời nói của mọi người quen sơ thôi, chứ đã thân thiết thì phải biết chính xác số con của Ba tôi là bao nhiêu, không thể đoán mò được nữa. Cho đến khi tôi về làm dâu Ba chồng tôi, thì con số đó không phải là ba mươi hai, mà là ba mươi sáu cơ! Quả là một con số không tưởng tượng được, vì Ba chồng tôi có hai vợ. Hai bà vô cùng mắn con, và cứ sòn sòn năm một như gà. Mỗi bà hạ sinh tất cả mười bẩy lần, trong đó mỗi bà đều có một lần sinh đôi, vị chi mỗi bà sinh mười bẩy lần và được mười tám người con. Và anh chàng của tôi là “nhạc trưởng” của dàn nhạc ba mươi sáu nhạc công đó. Khi biết con số đó, thú thật tôi hơi hoảng. Và đó cũng là lý do tôi không hứng thú với cuộc hôn nhân này. Nhưng ai cũng nói vơ vào, làm như nếu không nhận lời làm vợ anh chàng thì tôi sẽ “ở giá” suốt đời. Nhất là bà cô tôi cứ rù rì như rót mật vào tai tôi, nào là:
“Trông bà mẹ phúc hậu quá cháu ạ! Tướng tá như một mệnh phụ ấy thôi. Mặt ấy hiền lành, phúc đức lắm đấy. Không sợ mẹ chồng độc ác đâu cháu ạ!”
Hoặc:
“Anh em đông, mặc kệ nó chứ. Phận ai nấy lo. Cháu đâu phải nuôi mà sợ. Anh em nhất giả kiến phận mà. Đời lính, nay đây mai đó, đâu có ở một chỗ mà lo anh em quấy rầy.”
Rồi cô lại chép miệng bảo:
“Thời buổi này cháu đừng sợ câu “Trưởng nam ơi hỡi trưởng nam. Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam”. Mỗi năm có mấy ngày giỗ chạp mà cháu lo. Rồi mạnh ai nhớ ngày thì cúng giỗ hoặc xúm nhau lo chung chứ gì.”
Cô tôi hết dỗ dành đến đe dọa như:
“Cháu mà chê đám này là cháu cứ giậm chân tại chỗ, không ai dám rước cháu đâu. Ai hơn được nó mà dám xin hỏi cưới cháu nữa. Gia đình họ lại là thế gia vọng tộc ở đây. Mình là dân di cư, có giầu có cũng bằng họ, chứ đâu có hơn họ được. Nếu muốn môn đăng hộ đối thì có nơi nào hơn nữa. Bố mẹ cháu đã quyết định rồi, cô thấy cháu cứ vui lên là hơn.”
Hoặc quyết liệt hơn, cô tôi nói:
“Cô bảo mà không nghe cô, thì cô sẽ để mặc cháu đối phó với bố cháu đấy. Chỉ có mà no đòn...”
Tôi hoang mang, phân vân và lưỡng lự vô cùng. Không có ai khôn ngoan, nhiều kinh nghiệm để làm cố vấn cho tôi. Đời con gái chỉ có một lần lựa chọn và quyết định. Vội vã và sai lầm là hỏng cả một đời người. Cứ nghe bố tôi và cô tôi thì chỉ là những nhận xét phiến diện, hời hợt về gia đình, họ hàng, anh em, toàn những chuyện vật chất mà ai cũng có thể thấy trước mắt được. Còn tính nết anh chàng như thế nào, tư cách ra làm sao, tuyệt nhiên không nghe ai đả động đến. Rủi anh chàng là một người “đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành” thì chết con, bố ơi! Hoăïc “rán sành ra mỡ”, coi đồng tiền to như bánh xe ủi lô thì còn gì là cháu nữa hở cô? Mẹ tôi thì thôi, khỏi nói. Sao cũng được. Quyền sinh sát trong tay bố tôi hết cả. Các bạn tôi, đứa thì bảo:
“Cũng được đấy. Người ta quý mi như vàng. Thôi, mau lẹ lên cho bạn bè ăn đám cưới. Nhất mi rồi đó. Lấy chồng sớm thì... “sướng” sớm, nhưng cũng... “khổ“ sớm em nhé! Trong khi bè bạn còn đi lội nước lụt, đi tắm biển, thì mi đã phải “tay bồng, tay bế, tay mang” rồi!”
Đứa thì thực tế hơn, lại nói:
“Anh em nhà ổng đông như kiến. Cả đám, đứa nào cũng hơn tuổi mi, cũng đáng anh hai, chị ba của mi. Mi làm chị dâu họ, như “hoa lạc giữa rừng gươm”. Tao can mi đó. Nhưng đừng nói tao bàn ra, kẻo ông già mi giết tao!”
Tôi đâm lo sợ, chột dạ, hãi hùng, suy nghĩ mông lung. Nửa muốn chống đối để kéo dài cuộc đời thiếu nữ thêm vài năm nữ, bên đám bạn vui như sáo sậu. Nửa lại sợ uy quyền của ông bố nghiêm khắc, cùng bà cô khó tính. Ruột gan tôi rối như tơ vò. Tôi hốt hoảng thấy ngày tháng qua đi một cách vô vọng. Rồi ba mẹ của anh chàng đi thăm bố mẹ tôi. Họ đi ba người gồm ông chồng và hai bà vợ. Tôi đứng núp sau cánh cửa đã suýt bật cười thành tiếng khi tôi thấy ông cha chồng tương lai ngồi giữa hai bà vợ và nghe ông thản nhiên nói:
“Ba vợ chồng chúng tôi đến trước là thăm hai bác, sau nữa để thưa chuyện với hai bác về con trai chúng tôi muốn được hai bác cho phép để tìm hiểu con gái bác. Riêng chúng tôi cũng ao ước hai cháu thương nhau để được kết suôi gia với hai bác...”
Tôi đã vội che miệng cười khi nghe mấy tiếng “ba vợ chồng chúng tôi”. Ông mộc mạc và chân thật quá! Có ai nói “ba vợ chồng chúng tôi” không nhỉ? Không! Không có ai nói như thế, vì có mấy ai vợ lớn và vợ bé cùng sánh vai chồng đi ngỏ lời dạm vợ cho con như vậy? Tôi ôm đứa em, cùng nhau lăn ra mà cười, thì đụng ngay cô tôi vừa đem trà ra mời khách. Cô chận tôi bằng một cái nhìn nghiêm nghị và bảo:
“Cái gì thế? Ô hay, phải nghiêm trang chứ. Người ta đến xem mắt đấy. Cháu cứ rũ ra mà cười. Hỏng hết!”
Tôi đã toan nói với cô:
“Người ta nói như thế mà cô lại cấm cháu cười hay sao? Có cô mới cấm cản nụ cười, chứ ai lại...”
nhưng tôi chợt im lặng. Trong nhà, tôi phá phách, nghịch ngợm với lũ em bao nhiêu thì trước mắt bố tôi và cô tôi, tôi lại hiền như nai tơ bấy nhiêu. Trong bối cảnh gia đình của tôi, tôi như một người có hai bộ mặt, hai cuộc sống: ồn ào, huyên náo, nghịch phá, đầu têu đủ mọi thứ chuyện như tự động khiêng xôi, chè, chuối trên bàn thờ xuống ăn với lũ em, hoặc dẫn “đoàn hùng binh” đi khắp hang cùng ngõ hẻm ở thị xã Hội An bé tí tẹo này để hái hoa quả, bắn chim. Nhưng truớc mắt bố tôi và cô tôi, thì tôi lại tỏ ra ngoan ngoãn vô cùng, thuộc loại dễ dạy, “gọi dạ, bảo vâng” rất mực nết na, hiền thục. Tôi mơ hồ cảm thấy rằng tôi không đánh lừa được bố tôi, vì cái bản mặt giả hiền, giả ngoan của tôi đã nhiều phen bị cái nhìn của bố tôi “đi guốc trong bụng” tôi rồi. Có điều bố tôi không nói ra đó thôi. Ai biết con bằng cha mẹ! Câu này đúng thật. Vì thế nên tôi không ngạc nhiên khi bố tôi thường “quảng cáo” với mọi người về tôi rằng:
“Cháu nó lớn người nhưng chưa lớn tính. Chúng tôi vẫn còn phải thường xuyên đe nẹt, dạy bảo đấy!”
Hoặc như hôm nay, sau khi tiễn chân “ba vợ chồng chúng tôi” ra cửa, bố tôi đã hoan hỷ nói với họ:
“Các bác thương thì thấy thế chứ cháu nó còn trẻ con lắm, chưa biết gì. Nhưng cứ để cho chúng nó làm quen với nhau xem sao. Người lớn mình với nhau thì dễ rồi...”
Ở trong nhà, tôi đang lui cui dọn dẹp, khi nghe câu nói trên của bố tôi, thì tôi chợt thấy “nổi máu anh hùng”. Tôi mím môi hạ lệnh cho... tôi rằng:
“Phải làm cho ra lẽ...”
Nhưng làm bằng cách nào thì tôi chưa có kế hoạch gì trong đầu hết. Thôi thì đến đâu hay đến đó. “Nắng đâu che đấy” vậy.
Tôi nói thế rồi cứ thản nhiên để thời gian trôi qua, vì tôi còn phải học bài để hoàn tất kỳ thi Tú Tài năm đó, nên việc hỏi cưới hai bên cứ tuần tự tiến hành với hai đạo diễn cừ khôi là bố tôi và cô tôi cùng toàn thể “ba vợ chồng chúng tôi” bên nhà trai. Thậm chí cô tôi còn lấy áo dài trong tủ của tôi cho thợ may lấy ni tấc để may áo cưới. Rồi tôi thấy mẹ tôi sửa soạn đũa chén, soong nồi lớn, dao thớt làm cỗ bàn, tất cả được đem ra chùi rửa sạch sẽ. Tôi nghe hai chị giúp việc trong nhà thì thào với nhau:
“Nhà mình sắp có tiệc lớn.”
Tôi không để ý nên không hỏi, chỉ lo học bài để chuẩn bị cho kỳ thi sắp đến, đâu có ngờ rằng mình đang bị ông bố và bà cô âm mưu xỏ mũi dắt đi nhà khác. Vô tâm đến thế là cùng. Nhưng cũng chính cái tâm rỗng tuếch đó, tôi mới có ngày nay để sống một cuộc sống bình thường, không sóng gió bên “anh chàng” còn “được” hơn tôi tưởng, và cũng không có điều nào đáng chê trách, nếu “giám khảo” không gay gắt quá. Duy có gia đình “anh chàng” thì quả thật “tạo hóa” đã tinh mắt mà cho tôi lọt làm dâu con trong nhà họ, vì đây là một gia đình “cả sông đông chợ, nhiều vợ lắm con”. Với một cuộc sống vui nhộn, hào hứng với “ba vợ chồng chúng tôi” và một bầy con ba mươi người lớn nhỏ còn sống trong số ba mươi sáu người đã được sinh ra. Sáu người đã mất từ khi mới lọt lòng, nên không thể liệt kê trong danh sách đám con đông nhất “thế giới Hội An” này.
Vì ông nội mất sớm khi mới hai mươi bốn tuổi, đang còn tuổi thanh niên, ông bỏ lại bà nội còn quá trẻ và ba con dại. Bà nội ở vậy nuôi hai người con gái và một con trai độc nhất là ba của anh chàng. Trong từ đường của gia tộc, tôi còn thấy bức liễn ghi bốn chữ “Tiết Hạnh Khả Phong” do Vua Bảo Đại ban cho bà nội anh chàng. Tôi nghe kể lại – vâng, tôi chỉ nghe kể lại thôi chứ làm sao tôi biết được những loại chuyện thuộc hàng “cổ tích” trong dòng họ anh chàng – rằng thì là bà nội đã từng bị
ông nội nọc ra giường đánh ba roi mây về tội “dám” ghen tương, tra hỏi khi ông nội đi chơi khuya về. Phong kiến thế đấy! May phước, tôi không được “hân hạnh” làm dâu thời buổi đó. Bà nội ở vậy, nuôi dạy ba người con ăn học nên người. Người con gái lớn, cô Hai - sau này là phu nhân của quan đầu tỉnh Quảng Nam - mà chúng tôi thường gọi bà bằng tiếng gọi thân mật là “Má Hai”. Người con gái thứ hai, cô Ba mà chúng tôi gọi bằng “má Ba”, phu quân của cô là một chuyên viên độc nhất hành nghề bán bảo hiểm xe hơi cho một hãng bảo hiểm của Pháp. Sau khi tản cư, ông nghỉ bảo hiểm và xoay qua buôn bán bách hóa và cung cấp mễ cốc, lúa gạo cho toàn tỉnh Quảng Nam thời đó. Còn lại người trai út là cha của anh chàng thì cùng vợ lập nên một tiệm buôn lớn và chung với cô Ba mở một hý viện cùng tên với tiệm buôn. Từ khi có hý viện thì các đoàn hát trong Nam ra, có chỗ để trình diễn, người dân Hội An có thêm ca nhạc làm phương tiện giải trí, ngoài nghệ thuật thứ bẩy ở một rạp xi nê Hòa Bình độc nhất của thị xã.
Câu chuyện “cả sông đông chợ, nhiều vợ lắm con” của cha chồng tôi đã có những chuyện đáng liệt vào loại tiếu lâm vui cười, do nhiều người truyền miệng nhau trong những khi “trà dư tửu hậu”. Một chuyện mà cho tới bây giờ đã qua Mỹ, thỉnh thoảng tôi vẫn còn nghe có người nhắc lại. Chuyện như thế này: những ngày cuối năm Âm Lịch, theo truyền thống, người Việt Nam dù giầu hay nghèo cũng ăn Tết thật “xôm”, nhất là các nhà buôn, quanh năm suốt tháng thu lợi nhuận từ những thương vụ lớn nhỏ, ai cũng muốn “tống cựu nghinh tân” bằng những phong pháo đốt dài dài từ tối ba mươi, nhất là Giao Thừa, qua sáng mùng một, mùng hai, mùng bà, mùng bốn đến lễ cúng đưa ông bà và mở cửa đầu năm. Tiếng pháo nổ giòn từ nhà này sang nhà khác liên tục không dứt. Mùi thuốc pháo thơm lừng và tỏa bay mù trời. Xác pháo trải dài trên lối đi và tạo cho không khí Tết Việt Nam một hương vị đặc biệt không thể có được ở những nơi khác. Năm đó, tiệm buôn của ông cha anh chàng treo một dây pháo thả dài từ trên lầu xuống, khúc giữa còn máng lên một cây cột. Tiếng pháo nổ luôn luôn kéo theo đám trẻ con các nhà lân cận chuyên đi nhặt những trái pháo lẻ chưa nổ, để lát nữa đì đùng đốt chơi. Tiệm buôn nào đốt pháo cũng có đám trẻ con này. Khi dây pháo còn đang nổ tóe lửa trên cao, đã có những đứa trẻ bạo gan, hai tay bịt tai, xông vào nhặt pháo rồi. Dây pháo khi nào cũng được kết thúc bằng một trái pháo tống thật to, tiếng nổ chát chúa như tiếng bom. Cha của anh chàng mãn ý nhìn phong pháo nổ tan xác, trải thành một tấm thảm đỏ trước cửa tiệm. Ông chờ cho lũ trẻ nhặt hết pháo lẻ rồi sẽ đóng cửa đi vào. Chợt một đứa bé trai càng lúc càng xích gần vào trong tiệm, tìm nhặt những pháo lẻ nằm kẹt đâu đó trong hàng cửa sắt. Ông bảo chú bé:
“Thôi hết rồi. Về đi ngủ. Mai đốt nữa, lượm tiếp.”
Đứa bé trai xích hẳn vào trong khung cửa và đứng lọt vào trong tiệm. Ông lại nhắc:
“Thôi chứ. Đi về đi chớ! Giao thừa rồi mà!”
Nhưng mắt thằng bé còn nhìn quanh quất và nhặt thêm vài viên pháo nữa. Ông vịn vai nó đẩy nhẹ và dịu giọng:
“Về đi. Cho bác đóng cửa.”
Đứa bé vùng vằng đi vào nhà, sau khi phụng phịu:
“Con mà ba. Ba kỳ quá hà!”
Ông nhìn theo dáng đi của nó khuất sau quầy hàng. Ông há miệng, đứng như trời trồng:
“Trời ơi! Thằng Út! Mi ra đây hồi nào vậy?”
Phải chờ đến sáng mai Mùng Một Tết, ông và thằng Út kể lại, cả nhà mới rũ ra mà cười. Rồi theo cách kể chuyện rất khôi hài và hấp dẫn của ông, chẳng mấy chốc câu chuyện lan truyền khắp phố cổ Hội An nhỏ bé.
Lại nghe kể rằng khi sinh đứa con đầu lòng là anh chàng, lúc đó đã được năm tuổi thì ba anh chàng bắt đầu “lẹo tẹo” với bà Dì Hai này. Nguyên trước kia hai người đã yêu nhau, nhưng vì gia đình ngăn cản sao đó, nên hai người xa nhau. Ba đi cưới Má là một cô gái mới mười sáu tuổi. Dì cũng vâng lệnh cha mẹ lên xe hoa với ai đó. Năm sau, chồng Dì bị tai nạn chết, Dì trở thành góa bụa khi còn quá trẻ. Vì có người thân ở Hội An nên Dì về đây tạm sinh sống, những mong cảnh sống tĩnh lặng nơi tỉnh nhỏ sẽ giúp Dì mau hàn gắn vết thương lòng. Rồi vì sao Ba gặp Dì và gặp ở đâu thì những người ngọai cuộc không thể biết, chỉ biết rằng “tình cũ không rủ cũng tới”, nên Ba và Dì đã lén Má “đi lại” với nhau. Một ngày nọ, Ba đi đâu mất, không về nhà. Má ở nhà chong đèn chờ. Cơm canh nguội ngắt cũng chưa thấy Ba về. Ngày hôm sau, Má nhờ người đi tìm kiếm Ba khắp nơi quen biết, cũng không thấy Ba đâu. Một ngày. Hai ngày trôi qua. Ngày thứ ba trôi qua. Công cuộc tìm kiếm trở nên vô vọng. Một bà thầy bói được mời đến. Sau khi bấm quẻ, xin âm dương, bà cho biết là Ba đã chết sông, chết nước nên đề nghị Bà Nội và Má lập đàn cúng trên sông cho Ba được siêu thoát. Rồi ngày thứ tư trôi nhanh. Lại ngày thứ năm vụt qua. Ngày thứ sáu lướt nhanh. Ngày thứ bẩy thì Ba lù lù bước vào nhà. Má hoảng hồn tưởng ma, nhưng nhìn lại thấy Ba đi đứng đàng hoàng, lại bỏ cái mũ “phớt” xuống bàn rồi hôn nhẹ trên má mẹ già và nói:
“Thưa mẹ, con mới về.”
Tuy vô cùng mừng rỡ vì thấy con còn sống sót trở về, nhưng phéùp tắc trong nhà phải giữ, nên bà nội vùng đứng dậ y, quát to:
“Mi đi đâu mấy ngày nay. Không nói với ai cả. Báo hại cả nhà đi tìm đi kiếm chết luôn. Mụ thầy bói ba xàm ba láp nói mi chết sông rồi. Báo hại tao với vợ mi phải lập đàn cúng cho mi. Mi thật là...”
Thấy mẹ chồng giận dữ thay vì vui mừng, Má nhỏ nhẹ can:
“Thôi, mẹ à. Ảnh đi xa mới về, cho ảnh vào nghỉ ngơi, lát mẹ hỏi tội cũng được.”
Ba nghe mừng rỡ, ra sau nhà cho gia nhân và bầy con xúm lại thăm hỏi. Ba chỉ mỉm cười, mượn chữ “đi xa mới về” của Má để trả lời mọi người. Buổi tối bên mâm cơm, cả nhà vui vẻ đón người chết đi sống lại. Má tươi cười rủa thầm bà thầy bói nói láo ăn tiền:
“Từ nay sắp tới, đừng bao giờ tin ba cái mụ thầy bói nữa nghe. Bà Nội và Má bị họ lừa đảo rồi đó.”
Đêm đó, trong chiếc màn tuyn xanh buông thả bốn góc, Ba và Má vui vầy bên nhau. Mặc cho Má cố gặng hỏi:
“Anh đi đâu mấy ngày nay? Đi với ai và làm gì?”
Má hỏi đi hỏi lại, chỉ một câu hỏi duy nhất đó mà thôi. Gần như suốt đêm, cũng chỉ một câu hỏi đó. Và đáp lại câu hỏi đó, Ba cũng chỉ có độc nhất một câu trả lời:
“Cho anh miễn trả lời. Khi nào anh hay em chết, câu nói cuối cùng của anh sẽ là câu trả lời: “Anh đi đâu mấy ngày vừa qua? Với ai và làm gì?”
Ít lâu sau, câu chuyện tình vụng trộm của Ba với Dì được nhiều người biết. Ở tỉnh nhỏ, những câu chuyện như thế khó mà giấu được mọi người. Một đồn mười. Mười đồn trăm. Người ta kể về Ba và Dì như chính người ta trông thấy hai người “đi lại” với nhau. Bà Nội là người biết đầu tiên, không phải do ai xấu miệng kể cho bà nghe, mà do chính Ba năn nỉ để nhờ cậy bà cùng Má đi cưới vợ nhỏ cho Ba. Ba cám cảnh góa bụa của Dì và “tình xưa sống lại, can không nổi”. Bà nội lưỡng lự, vì đây là một loại tin “sét đánh” với Má là người con dâu mà bà đã chính thưc trầu rượu đi hỏi cưới cho Ba. Cùng là
phận đàn bà nên bà nội phân vân lắm. Bà càng phân vân, khó nghĩ hơn trước những giọt nước mắt của Ba. Từ ngày chồng chết đi, bỏ bà bơ vơ trong lúc “tình đang nồng, hương đang đượm”, bà dồn hết tình thương cho ba người con, trong đó ngưới con trai duy nhất nối giõi tông đường được bà thương yêu hơn tất cả những gì trên cõi đời này. Một bên là nàng dâu bà rất ưng ý, không có gì để bà phải phiền trách. Rồi “mẫu tử tình thâm”, bà đã phải chiều theo ý của ông con trai. Bà đã phải lựa lời, lựa lúc để thuyết phục nàng dâu. Bà khuyên lơn, an ủi, vỗ về. Trước áp lực của mẹ chồng, trước những lời van xin của chồng, Má đã cùng bà nội đi cưới Dì cho Ba. Từ đó nhà có thêm bóng dáng của Dì. Ba vui tươi trẻ lại cả chục tuổi. Nói cười, vui đùa như thanh niên đang yêu, hạnh phúc và thỏa thuê lắm. Tuy không đẹp bằng Má, nhưng Dì là một phụ nữ hoạt bát, giỏi xã giao và tính tình rộng rãi, được nhiều người thương mến, trong đó có cả đám con của Má. Những người con của Má thích tính tình của Dì, thân mật, chuyện trò và thường tâm sự với Dì nhiều hơn với Má đẻ. Dì giỏi chiều chuộng Ba lắm. Đó cũng là lý do tại sao Ba rất yêu Dì.
Mãi nhiều năm sau, bầy con của hai bà mẹ đã lớn, hai đứa út đã học tiểu học. Má và Dì hết tuổi sinh nở, thỉnh thoảng bầy con còn nghe Má hỏi Ba một câu xưa như... trái đất:
“Cho đến bây giờ, anh cũng không chịu nói cho Mẹ và em biết ngày ấy anh đi đâu, với ai và làm gì hay sao?”
Ba vẫn nhoẻn cười và bí mật trả lời một câu muôn thuở rằng:
“Đừng có hỏi rộn chuyện. Anh sẽ không bao giờ nói. Trừ khi anh hay em chết. Giờ cuối cùng anh sẽ trả lời câu hỏi đó. Em cứ chờ đi.”
Điệp khúc đó được nhắc đi nhắc lại cho tất cả các con trai, gái, dâu, rể nghe. Chúng tôi cũng thầm mong Ba trả lời để không phải nghe Má hỏi mãi câu hỏi này sang đời mấy đứa cháu nữa. Nhiều khi câu hỏi được đặt ra trong mấy anh chị em của chúng tôi, nhưng chợt im bặt khi Dì xuất hiện. Tôi băn khoăn tự hỏi phải chăng câu trả lời ấy có liên quan đến Dì? Chả lẽ Dì là vai chính của câu trả lời với ai, làm gì và ở đâu của Ba hay sao?
Thời gian trôi nhanh. Chúng tôi cũng ít thắc mắc về câu trả lời của Ba, nhưng Má thì gần như không bao giờ quên. Năm nọ, Dì mãn phần sau một cơn bạo bệnh. Và ngày kia, Ba đang khỏe mạnh, nuôi Má bệïnh tật nhiều năm qua. Không ai nghĩ rằng Ba sẽ về cõi vĩnh hằng trước Má. Và chúng tôi đang chờ câu trả lời của Ba trước khi Má xuôi tay nhắm mắt. Nhưng Ba lại bất ngờ bị tai biến mạch máu não rồi ra đi trước Má, mang theo bí mật của câu trả lời xuống tuyền đài: “Ngày ấy, anh đi đâu, với ai và làm gì?” Má vẫn thường ngậm ngùi nói: “Ba còn nợ Má một câu trả lời.”
Tháng sáu vừa qua, Má cũng theo chân Ba về non Bồng nước Nhược. Tôi biết chắc rằng khi gặp lại Ba ở nơi đó, nhất định câu hỏi của Má vẫn là: “Ngày ấy, anh đi đâu, với ai và làm gì?”. Và nhất định khi đó, câu trả lời sẽ được Ba đáp ứng thỏa đáng.
Nhưng, không biết khi nghe rồi, Má có còn muốn nghe nữa không, hay lại muốn mãi mãi là một câu hỏi chưa có câu trả lời?
Hoa-Hoàng-Lan