DVD Asia - 61 Nhật Trường Trần Thiện Thanh
hay 30-04 Vinh Danh Người Chiến Sĩ VNCH
Tượng Đài Chiến Sĩ Nam Cali
Quả Phụ "Thơ Ngây"
Tượng Đài Tiếc Thương Chiến Sĩ
Asia 61: Nhật Trường Trần Thiện Thanh 2 : BÀ MẸ TRỊ THIÊN
Bài: Duy Khiêm.
Hình: Trung Tâm Asia.
Lại thêm một tháng Tư nữa trở về với mọi người dân Việt chúng ta. Đã 34 năm dài trôi qua với từng tháng Tư Đen uất hận nghẹn ngào cho những đồng bào phải rời xa quê hương nhưng vẫn mang trong lòng nỗi buồn viễn xứ. Trong những tháng gần đây đã có quá nhiều biến động ở quê nhà, từ biên giới phía Bắc xuống tới Tây Nguyên (vấn đề Bauxite) và ra tận những hải đảo cát vàng ở biển Đông càng làm cho chúng ta thêm buồn đau, ray rức khi hướng lòng mình về bên kia bờ Thái Bình Dương thăm thẳm mù khơi.
Ðặc biệt là trong tháng Tư năm nay, nhiều người trong chúng ta lại có dịp hồi tưởng lại những hình ảnh, âm thanh của đất nước Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa qua giòng nhạc của Trần Thiện Thanh ở tác phẩm DVD Asia 61 sẽ được Trung Tâm Asia phát hành rộng rãi khắp nơi vào ngày Thứ Sáu 24-04-2009.
*Asia 61: “Bà Mẹ Trị Thiên”
Chương trình Asia 61 đã khai mạc bằng một tiết mục mở màn thật huy hoàng và tráng lệ mà cũng đượm khá nhiều nét bi ai khiến cho tất cả khán giả hiện diện vô cùng bồi hồi xúc động. Những kỹ thuật âm thanh, ánh sáng tân kỳ và sự dàn dựng công phu cùng sự diễn xuất điêu luyện của các nghệ sĩ góp mặt đã khiến cho chương trình Nhật Trường Trần Thiện Thanh 2 trở nên thật xuất sắc và độc đáo hơn những chương trình trước kia của Asia.
Nếu ở Asia 50: Nhật Trường - Trần Thiện Thanh (đúng ba năm về trước, tháng Hai, 2006) có chủ đề “Tình Yêu - Cuộc Đời và Sự Nghiệp” thì ở Asia 61 này, “BÀ MẸ TRỊ THIÊN” nổi bật lên như là một chủ đề phụ của chương trình này. Đó cũng là hoạt cảnh mở màn với sự trình diễn và diễn xuất của hai tài danh Thanh Lan và Vũ Khanh. Ngoài ra sự hiện diện của những diễn viên phụ với quân phục của nhiều binh chủng khác nhau và các ca sĩ cùng long trọng đứng chào cũng là những giây phút thật trang nghiêm để tưởng niệm cho các đồng đội của quân lực VNCH đã hy sinh trong cuộc chiến, và tất cả những đồng bào đã nằm xuống vì lý tưởng tự do.
Như một cuốn phim dài hơn 5 tiếng đồng hồ, Asia 61 đã đưa khán giả quay trở về những tháng ngày tang tóc đau thương nhất của năm 1972, nơi chiến trường Quảng Trị, Đông Hà là vùng đất ở tuyến đầu khói lửa với giòng sông Thạch Hãn (mồ hôi của đá) luôn luôn ngậm ngùi vì chứng kiến cảnh đôi bờ đất nước phân ly. Nơi đó có những bà mẹ Trị Thiên đã vất vả suốt đời với mảnh “đất cày lên sỏi đá” mà vẫn lo lắng cho từng thằng con đi lính. Ca sĩ Thanh Lan và Vũ Khanh đã diễn tả câu chuyện Bà Mẹ Trị Thiên bằng những lời ca phảng phất giai điệu dân ca khá não nề như than, như oán:
“Mẹ già có 1 thằng con, tròn 3 năm lính cũng chưa về nhà.
Mẹ còn nuôi 1 đứa con, ở tận Thất Sơn ra Trung lập đồn.
Mẹ chờ con ruột ở xa, thương yêu mẹ dành cho thằng con nuôi.
Mẹ đợi một sớm bình yên, 2 thằng con (của) mẹ về vui với tuổi già.”
Mơ ước của bà Mẹ Trị Thiên thật giản dị, đơn sơ. Trong cảnh thanh bình đó, bà sẽ kể với hai con về những ngày tuổi trẻ của bà tham gia đánh Tây dành độc lâp từ năm bà tròn mười tám tuổi cho đến mùa thu năm 1954, bà phải chứng kiến cảnh nước nhà chia ra làm hai. Rồi làn sóng đỏ từ phương Bắc tràn vào gây bao tang tóc, điêu linh nhưng bà vẫn dạy cho đứa con lớn lên thành người chiến sĩ can trường, một lòng đánh giặc giữ yên xóm làng. “Nào ngờ có một lần kia … Thằng Hai anh dũng chiến trường Lộc Ninh”. Vậy mà, người con ruột duy nhất của bà đã hy sinh nơi chiến trận phía Nam. Tuy đau thương quá đổi, nhưng khi ngồi bên chiếc quan tài của con được phủ lá quốc kỳ và huân chương anh dũng bội tinh, bà vẫn hãnh diện vì “con của Mẹ đã vị quốc vong thân nơi chiến trường”. Ôi thật cao quý và cảm động biết bao với tấm lòng bao la vì quê hương đất nước của “Bà Mẹ Trị Thiên”. Nhưng kết cuộc của câu chuyện này lại càng bi thương thêm nữa, khi đứa con nuôi của bà phải ở trong hoàn cảnh “Măng khóc tre trên mảnh đất quê” khi bà mẹ già bị giặc thù giết chết.
Nhạc cảnh mở màn này cũng cho thấy tài kể chuyện của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh qua từng lời ca, nốt nhạc và qua tài diễn xuất của ca sĩ Thanh Lan và Vũ Khanh đã khiến cho mọi người cảm phục thêm cho sự hy sinh cao quý của những bà mẹ Việt Nam trong thời chinh chiến. Nhiều giọt nước mắt đã trào ra khi lắng nghe và chăm chú theo dõi hoạt cảnh rất bi thương này.
Như vậy, chương trình Asia 61 này đã làm nổi bật lên một giai đoạn khốc liệt nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam cận đại bằng những bài hát tiêu biểu nhất của Trần Thiện Thanh. Đó là thời kỳ của “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972. Đó cũng là thời điểm những sáng tác về “lính” độc đáo nhất, đáng nhớ nhất và vượt trội hơn hết trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Một giai đoạn sáng tác sung mãn với những bài hát để đời về “lính” như: Bà Mẹ Trị Thiên, Người Ở Lại Charlie, Anh Không Chết Đâu Anh, Chiều Trên Phá Tam Giang, Người Chết Trở Về, Trời Chưa Muốn Sáng, Chuyện Tình Mộng Thường, ..v.v…Nhà văn quân đội Phan Nhật Nam đã viết: “Mùa Hè 1972 trên thôn xóm và thị trấn của ba miền bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt…lửa ngùn ngụt, lửa bừng bừng, lửa kêu tiếng lớn đại pháo, lửa lép bép nức nở của thịt da người nung chín, lửa kéo dài qua đêm, lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng…Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy…Mùa Hè năm 1972, mùa hè máu, mùa hè của sự chết và tan vỡ toàn diện, mùa hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày…!!” Chương trình Asia 61 “Bà Mẹ Trị Thiên” cũng đã khép lại ở thời điểm “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” đó với hoạt cảnh chiến tranh trên “Đại Lộ Kinh Hoàng” , với cái chết của “Bắc Đẩu” Nguyễn Ngọc Bích “liệm xác ba lần, thịt xương nát tan” qua sự diễn tả của Nguyễn Hồng Nhung và Lâm Nhật Tiến cùng tất cả các nghệ sĩ của Trung Tâm Asia.
Tuy nhiên, điểm độc đáo của âm nhạc Trần Thiện Thanh là bên cạnh những bài hát ngợi ca những tấm gương hy sinh anh dũng nơi chiến trường của người lính VNCH và những đau thương mất mát cho thân nhân còn lại là những tình khúc êm đềm vô cùng lãng mạn của tuổi trẻ nơi chốn hậu phương an bình.
*Những bài hát ngợi ca tình yêu đôi lứa.
Sau những đau thương, mất mát của “Bà Mẹ Trị Thiên” nơi địa đầu giới tuyến, chương trình Asia 61 lại đưa khán giả quay về vùng hậu phương yên bình, nơi phố thị phồn hoa với những cuộc tình lãng mạn như “Chuyện Hẹn Hò”, “Ai Nói Yêu Em Đêm Nay”, “Một Đời Yêu Em” hoặc “Xin Em Đừng Hỏi”…
Với kỹ thuật ghép hai tiếng hát lại với nhau, Phương Hồng Quế đã song ca với cố ca sĩ Nhật Trường bài hát “Chuyện Hẹn Hò” thật là sống động. Tiết mục này cũng mang thật nhiều ý nghĩa vì trong quá khứ, PHQ và NT đã từng hát chung với nhau rất nhiều lần khi còn ở Việt Nam trước năm 1975 qua những chuyến công tác ở Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Sau này khi ra hải ngoại và định cư ở cùng một thành phố, cho đến tháng Tư năm 2005 trong những ngày ca nhạc sĩ NT lâm trọng bệnh, thì hầu như ngày nào PHQ cũng dành chút thời giờ ghé qua nhà thăm viếng NT, để “nói đôi câu chuyện cho anh vui. Hôm NT ra đi vĩnh viễn (13-5-2005) thì thật sự là một cú shock nặng nề trong trái tim tôi. Đối với tôi ngoài tình nghệ sĩ, anh NT còn là một người anh tinh thần thân thiết”. (Lời PHQ tâm sự)
Ít người biết là bài hát “Ai Nói Yêu Em Đêm Nay” là một chuyện tình có thật của tác giả Trần Thiện Thanh. Trong một buổi tối hẹn hò với người bạn gái nơi vũ trường mà ôngkhông đến kịp, người thiếu nữ ngồi chờ ông đã bị một gói chất nổ do đặc công cộng sản gài và nổ tan xác. Bài hát đã được ca sĩ trẻ Hồ Hoàng Yến diễn tả bằng một giọng ca trao chuốt, mang âm điệu rất “thính phòng” với những lời hát vô cùng lãng mạn, pha chút ngậm ngùi chua xót cho thân phận của những thiếu nữ Việt Nam trong thời chinh chiến:
“Son phấn nào giết ngây thơ,
ánh đèn nào màu đơn côi,
lệ rơi nhiều hơn mưa lũ…”
Một bài hát “thính phòng” khác cũng từng được chính tác giả là ca sĩ Nhật Trường diễn tả ngày xưa rất được nhiều người yêu thích là “Xin Em Đừng Hỏi” . Có lần, nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã nhận xét: “Không ai hát nhạc Trần Thiện Thanh hay hơn Nhật Trường”. Ít có nhạc sĩ Việt Nam nào vừa sáng tác mà cũng vừa trình diễn một cách thật hoàn hảo, nhưng cũng rất “điệu” những bài hát của mình theo kiểu Nhật Trường trong “Xin Em Đừng Hỏi” ngày xưa. Nhưng ở Asia 61, Lâm Thúy Vân đã diễn tả trọn vẹn bài hát này với phong cách riêng của cô trong bộ y phục dạ hội rất sang trọng dưới ánh đèn màu.
Được nhiều người chú ý đến là “tiếng hát liêu trai” Thanh Thúy, một người bạn thân và cũng là cô láng giềng của Nhật Trường thời thơ ấu ở Phan Thiết cho mãi đến sau này nơi hải ngoại, đã được vinh dự đơn ca “Hãy Trả Lời Em”. Đó là một bài hát ít người còn nhớ là tác giả Trần Thiện Thanh đã sáng tác từ lâu lắm khi ông cùng hợp soạn với Đào Duy và Nhật Bằng với những lời hát như:
“Cho em tìm vào tim anh,
Lắng nghe từng hơi thở
Hãy trả lời em đi anh...”
Trong khi đó, phần trình diễn của các cặp song ca rất thành công với những bài hát rất thích hợp với chất giọng của từng người. Khán giả đã khen ngợi đôi danh ca Chế Linh và Phương Dung với “Đôi Ngã Đôi Ta”, một sáng tác của Trần Thiện Thanh tưởng đâu đã không còn nghe lại được sau bao nhiêu năm dâu bể chia lìa. Đây cũng là một trong những bài hát đầu tiên mà nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã sáng tác khi vừa rời quê nhà Phan Thiết vào Sài Gòn lập nghiệp để khởi đầu cho cuộc đời nghệ sĩ của ông. Những kỷ niệm của quãng đời thư sinh nơi tỉnh lẻ của ông và nỗi cô đơn nơi chốn thành đô đã được Chế Linh diễn tả:
“Mình anh riêng bóng, xa xôi mịt mùng, bồi hồi ước mong.
Dẫu cho người đi năm xưa dặn lòng …”
Lần này, những cặp song ca được kết hợp rất xứng đôi với nhau. Không còn cảnh một người hát xong bước vô và người kia bước ra, mà họ đã thực sự cùng đứng hát chung với nhau trọn cả bài hát. Đó là những tiết mục rất đặc sắc của Ngọc Minh-Trung Chỉnh, Diễm Liên-Nguyên Khang, Thiên Kim-Philip Huy, Mỹ Huyền-Tuấn Vũ, Thùy Hương-Đoàn Phi, Trish-Spencer, MC Thùy Dương-Đặng Thế Luân, Tiến Dũng-Thanh Trúc, Ánh Minh-Justin Nguyễn và còn nhiều cặp song ca nữa ở những màn hoạt cảnh cần sự diễn xuất rất nhịp nhàng, ăn khớp với nhau. Khán giả thật ngạc nhiên khi thấy tài danh cổ nhạc Chí Tâm xuất hiện ở chương trình này với màn song ca tân cổ giao duyên cùng với Ngọc Huyền và trả lời phỏng vấn của MC với nhiều chi tiết khá ly kỳ, hấp dẫn. Đây lại là một tiết mục được tán thưởng rất nhiều qua bài hát quen thuộc “Tạ Từ Trong Đêm”.
Nhắc đến cố ca nhạc sĩ Nhật Trường là phải nhắc đến nhóm “Tứ Ca Nhật Trường” trong chương trình “Tiếng Hát Đôi Mươi” được yêu thích qua nhiều năm dài trên làn sóng của các đài phát thanh quốc gia và quân đội VNCH và trên đài truyền hình băng tần số 9. Trong nhóm đó chỉ có Nhật Trường là nam và ba giọng nữ khác gồm những tiếng hát đã một thời vang bóng như Mai Hương, Quỳnh Giao và nhất là cô em gái Như Thủy của Nhật Trường (hiện vẫn còn sinh sống ở Việt Nam). Tiếc là trong chương trình này không có sự góp mặt của những nữ ca sĩ nêu trên. Tuy nhiên, Trung Tâm Asia đã kết hợp bốn tiếng hát trẻ trung ở hải ngoại lại với nhau thành một nhóm tứ ca trong bài hát “Không Bao Giờ Ngăn Cách” gồm có Châu Tuấn, Bích Vân, Y Phương và Diễm Liên. Tiết mục này được khen ngợi rất nhiều do tài diễn xuất và phong cách trẻ trung, vui vẻ, mang đầy tính lãng mạn của nhóm “Tứ Ca Nhật Trường” ngày xưa.
*Những tiếng hát trẻ trung với giòng nhạc Trần Thiện Thanh:
Âm nhạc của Trần Thiện Thanh có rất nhiều bài hát được viết theo nhịp điệu trẻ trung vui tươi, nên những ca sĩ trẻ tuy sinh ra và lớn lên ở hải ngoại, nhưng vẫn trình diễn rất thành công các bài hát này và có thể làm thay đổi không khí sau những bài hát buồn đau, thương xót, chia ly. Không khí hậu phương hay phố thị yên bình hoặc quãng đời thư sinh êm đềm nơi trường lớp trong các bài hát này đã được các ca sĩ trẻ cùng những vũ công phụ họa làm cho chương trình Asia này mang đậm nét nghệ thuật và chứng tỏ rằng tài năng sáng tác của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh rất đa dạng trong cách dùng chữ, tìm đề tài hay lạ và nhạc điệu thường xuyên thay đổi.
Đáng chú ý là bài hát “Yêu” là một sáng tác của Trần Thiện Thanh viết ra khi ông còn rất trẻ (như ông đã tâm sự khi trả lời phỏng vấn với Khánh Ly) nhưng lần này được Thùy Hương và Đoàn Phi trình bày với âm điệu trẻ trung làm cho bài hát này càng gần gũi với lớp trẻ ngày nay nhiều hơn. Một bài hát khác cũng ít được phổ biến là “Chủ Nhật Này Trẫm Nhớ Ái Khanh Không” do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ từ một bài thơ của thi sĩ Nhất Tuấn sáng tác từ năm 1964, nên trong lời hát có vài tiếng Pháp và những chi tiết rất thú vị của tuổi học trò ngày xưa, khi Ánh Minh bị phạt kỹ luật “cấm túc” vào ngày Chủ Nhật nàng phải vô trường chép hàng trăm câu “bài phạt”, nhưng sau đó Giám Thị phát giác ra nàng chỉ viết toàn là những câu giống nhau đầy thương nhớ với chữ “Trẫm” và “Ái Khanh” như tựa đề bài hát. Đây là lần đầu tiên ca sĩ trẻ Justin xuất hiện trên sân khấu Asia và song ca với Ánh Minh. Tên thật của Justin là Nguyễn Đỗ Tiến Sĩ, qua Mỹ từ năm 1990 theo diện HO2 vì có ông nội là một sĩ quan cấp Tá của quân đội VNCH và bị tù cải tạo nhiều năm. Trước kia Justin hay hát cho Trung Tâm Tình Productions bên cạnh những đàn anh, đàn chị lớn hơn Justin nhiều tuổi như Don Hồ, Loan Châu. Hôm nay ở Asia 61, chắc chắn đôi song ca Justin và Ánh Minh sẽ để lại những ấn tượng rất tốt đẹp với mọi người.
Riêng màn trình diễn của Trish Thùy Trang và Spencer cũng tạo nên những nét độc đáo riêng biệt bên cạnh những vũ công với sắc phục và màu nón khác nhau của các binh chủng trong quân lực VNCH. Một tiết mục vui nhộn và tràn đầy màu sắc khiến cho không khí thêm tưng bừng, náo nhiệt hẳn lên.
Trong khi đó đôi song ca trẻ Tường Nguyên và Tường Khuê lại diễn tả “Mười Sáu Trăng Tròn” theo giai điệu bolero như sở trường của họ và cũng rất thích hợp với giòng nhạc bolero của Trần Thiện Thanh với những lời ca đầy lãng mạn và rất ngọt ngào của lứa tuổi đôi mươi trong thời chiến vừa từ giã mái trường đong đầy kỷ niệm.
*Những màn nhạc kịch rất độc đáo:
Ngoài vở kịch vui không thể thiếu trong một chương trình đại nhạc hội là vở kịch “Món Quà Sinh Nhật” do đôi danh hài Quang Minh-Hồng Đào và hai kịch sĩ trẻ tuổi diễn xuất khiến mọi người quên đi những nỗi buồn đau, thương cảm qua nhiều bài hát được trình bày trước đó; khán giả lại yên lặng theo dõi những màn nhạc kịch qua những bài hát “để đời” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh.
Nhớ lại ngày xưa ở Việt Nam trước năm 1975, ca nhạc sĩ Nhật Trường đã có sáng kiến khá độc đáo khi ông trổ tài biến hóa những bài hát của ông thành những màn nhạc kịch dài và nặng phần diễn xuất. Ông tự mình nghĩ ra nhiều tình tiết cho thêm éo le gây cấn và viết thêm nhiều câu đối thoại, quay phim ngoại cảnh và ghép lại thành một vở nhạc kịch dài gần một tiếng đồng hồ để cho trình chiếu trên hệ thống truyền hình trắng đen toàn quốc VNCH. Các vai chánh thường là do chính Nhật Trường và Thanh Lan diễn xuất và ca hát, đối thoại với nhau.
Trong chương trình Asia 61 này, hai vở nhạc kịch tiêu biểu nhất của Trần Thiện Thanh đã được nữ ca sĩ Thanh Lan dành ra nhiều thì giờ viết lại phần đối thoại, phân cảnh và đạo diễn cho thế hệ đàn em diễn xuất. Các ca sĩ trẻ ở hải ngoại đã làm sống lại vai trò ngày xưa của Nhật Trường, Thanh Lan trên sân khấu rực rỡ đèn màu của TT Asia.
Được chú ý nhiều nhất là nhạc kịch “Tình Thiên Thu : Nguyễn Thị Mộng Thường” do Băng Tâm và Đan Nguyên ca diễn. Có thể nói vở nhạc kịch này đã gây xúc động tột cùng và được khán giả nhắc nhở nhiều nhất sau khi đi xem chương trình này về và bày tỏ cảm nghĩ ở những diễn đàn ca nhạc khắp nơi. Nhiều người đã biết về câu chuyện tình có thật đã xãy ra của chàng Thiếu Úy Biệt Động Quân tên là Phạm Thái với cô tiếp viên hàng không Việt Nam xinh đẹp tên Nguyễn Thị Mộng Thường. Tuy cha mẹ của cô đặt cho tên gọi Mộng Thường, nhưng cuộc đời của cô thì không bình thường chút nào như trong một giấc chiêm bao ngắn ngũi. Trong một lần đáp chuyến bay của hãng hàng không Air Vietnam, anh Phạm Thái đã rời trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt để về Sài Gòn trình diện với Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân để chuẩn bị lên đường đi tác chiến và đã tình cờ quen biết rồi yêu mến Mộng Thường. Băng Tâm đã hát:
“Đến lúc biết mơ mộng như những cô gái xuân nồng,
Nàng yêu anh quân nhân Biệt Động trong một ngày cuối Đông,
Chuyện tình trong thời giao tranh vẫn như làn khói mỏng manh
Chàng về đơn vị xa xăm... nàng nghe nặng nhớ mong.”
Thời gian sau đó, khi họ sắp làm đám cưới và chung sống với nhau thì chiến trận “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” cũng bùng nổ ở An Lộc khiến cho Phạm Thái phải lên đường chiến đấu. Ở đó, chàng Thiếu Úy này đã bị thương nặng và mất tích, tưởng đã hy sinh nơi chiến trận khiến cho Mộng Thường phải đau khổ trước cảnh đôi lứa sớm chia lìa. Không ngờ một thời gian sau “Người Chết Trở Về” trong mừng mừng tủi tủi. Thì ra chàng đã được một bà sơ (soeur) cứu sống và cho tá túc nơi một nhà thờ để dưỡng thương. Sau đó chàng tiếp tục phục vụ tại An Lộc và được thăng cấp lên Trung Úy. Phạm Thái đã gởi thơ về Sài Gòn mời người yêu mà cũng là vợ sắp cưới của chàng lên An Lộc tham dự buổi lễ “gắn lon” mới. Tuy là tiếp viên hàng không, nhưng lần này Nguyễn Thị Mộng Thường phải đón xe đò đi một quãng đường dài tìm gặp người yêu. Số phận nghiệt ngã như đã chờ đón Mộng Thường, khi chiếc xe đò chở nàng bị trúng mìn bom do bọn khủng bố Việt Cộng gài ở dọc đường. Mộng Thường bị thương nặng, mất máu rất nhiều và được cấp tốc chở vào một bịnh viện gần đó.
Trích đoạn của nhạc cảnh này trên sân khấu Asia cho thấy cảnh Băng Tâm trong vai Mộng Thường đang nằm trên giường bịnh, gầy ốm xanh xao với các cô y tá và bác sĩ (do ca sĩ Mỹ Huyền diễn xuất) chung quanh.
Nàng nằm đó bất động và đang được truyền nước biển vào mạch máu, tưởng như không còn chút sinh khí nào. Đột nhiên, chàng Trung Úy trẻ tuổi Đan Nguyên từ đơn vị được báo hung tin và đột ngột chạy vào với nét mặt phong trần pha lẫn xót thương, ray rức qua những lời ca:
“Xin cho yêu trong mộng thường, nhưng Mộng Thường cũng tan,
Xin cho đi chung một đường, sao định mệnh chắn ngang ..?”
Cảm động nhất là ở hoạt cảnh sau cùng, khi Đan Nguyên cất tiếng kêu gào hai tiếng “Mộng Thường” khi người yêu đang trút hơi thở cuối cùng trên tay anh. Đúng là định mệnh vô cùng nghiệt ngã khiến cho đôi trẻ sớm chia lìa như từng lời hát:
“Nhưng không chết người trai khói lửa,
Mà chết người gái nhỏ ở phương xa,
Một Xuân buồn có gió Đông qua …”
Hai ca sĩ trẻ Băng Tâm và Đan Nguyên đã ca diễn thật xuất sắc ở vở nhạc kịch này như đang thực sự hòa nhập vào hai nhân vật có thiệt ở ngoài đời là Nguyễn Thị Mộng Thường và anh sĩ quan Biệt Động Quân Phạm Thái của thời điểm “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” ngay trên quê hương yêu dấu ngày nào.
Vở nhạc kịch thứ nhì cũng do ca sĩ Thanh Lan đạo diễn là vở nhạc kịch
“Trên Đỉnh Mùa Đông” rất nổi tiếng ngày xưa ở Việt Nam do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác và đạo diễn. Sau này khi vừa qua Mỹ định cư, ông cũng đã thực hiện lại một lần trên video Hải Minh với Thanh Lan và đã trình diễn trên sân khấu với Băng Châu. Nhưng ở Asia 61, lần đầu tiên nam ca sĩ trẻ Quốc Khanh đã đóng vai Đại Úy Pháo Binh Dù Nguyễn Văn Đương và ca sĩ Như Quỳnh đóng vai người vợ tên là Nguyễn Thị Lệ.
Trích đoạn nhạc kịch này chỉ diễn lại phần đầu là bài hát “Trên Đỉnh Mùa Đông” nhằm kể lại mối tình thật đẹp của cô nữ sinh viên trẻ ở sân trường đại học trên đỉnh đồi Đà Lạt với chàng sĩ quan trẻ tuổi tên Đương. Vì vậy không có bài hát “Anh Không Chết Đâu Em” và cũng không có cảnh hồn ma “người chết hiện về” với máu me đầy khuôn mặt ưu sầu nhưng dũng cảm. Như vậy ở nhạc kịch này Quốc Khanh và Như Quỳnh đã diễn tả một tình yêu thật lãng mạn và tràn đầy cảm xúc nơi chốn hậu phương yên bình lại khiến cho nhiều khán giả thêm bồi hồi, nhung nhớ về một thời quá khứ xa xăm của gần bốn chục năm về trước.
Ở chương trình này lại có thêm một câu chuyện có thật được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh soạn thành bài hát “Dấu Đạn Thù Trên Tường Vôi Trắng” do Y Phương và Anh Khoa trình diễn. Đây có thể coi như một “tiểu nhạc kịch” với những người phụ diễn và vài câu đối thoại xen vào bài hát. Khá ngạc nhiên là “Dấu Ðạn Thù Trên Tường Vôi Trắng” cũng là một trong những bài hát được rất nhiều khán giả trẻ gởi lời đề nghị về Forum của Trung Tâm Asia trước ngày trình diễn. Câu chuyện về một người con gái đẹp thích trồng những bông hoa Hồng bên cạnh bức tường vôi trắng ở cạnh nhà nàng. Vào những ngày Tết của năm Mậu Thân (1968), khi chiến trận lan về tận thủ đô Sài Gòn khiến cho người thiếu nữ yêu kiều, lãng mạn đó (do Y Phương thủ diễn và ca ngâm) đã gục chết vì những viên đạn của quân thù bên bức tường vôi trắng cạnh những đóa hồng vương đầy vết máu của chính nàng. Chàng quân nhân Anh Khoa đã tìm về bên cạnh xác người yêu lạnh giá. Lời bài hát này rất thê lương ở đoạn sau cùng:
“Nhưng đâu có ngờ rằng trời xanh kín mây dại,
lần yêu cuối trong đời là lần yêu trong lửa khói.
Cuộc tình mong manh chưa đẹp sắc thắm hoa hồng,
mà đạn thù in sâu cho tường trắng bỗng hoen mầu.
Người theo gót đơn vị từng ngày thương mấy cho vừa,
được tin bên chiến hào rằng người yêu không còn nữa
Trở về nơi xưa,
Trời còn giăng mưa cho nghe nặng yêu mến xưa.”
Thêm một hoạt cảnh chiến tranh nữa là “Trời Chưa Muốn Sáng” do Nguyên Khang và Diễm Liên trình bày. Bài hát này rất nổi tiếng trước năm 1975 trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất. Nhiều ngôi giáo đường đổ nát do đạn bom tàn phá khiến cho ngay cả những người không theo đạo Công giáo cũng phải lên tiếng khẩn cầu “Lạy chúa tôi” vì không biết Chúa đang ở nơi nào phía trên cao, Chúa có nghe không bao lời cầu xin, khi quê hương dân tộc đang lắm cảnh đọa đày.
Lạy Chúa tôi, con, người không đạo
Nhưng tin có Chúa ở trên cao
Con nghe trong đêm Việt Nam tối tăm
Những mìn bom hoen dấu
Lạy Chúa trên cao Chúa ở nơi nào?
*“Bắc Đẩu” Đại Úy Thiết Giáp Nguyễn Ngọc Bích:
Kết thúc của chương trình đại nhạc hội vinh danh cho ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh kỳ 2 này là một màn hoạt cảnh gây nhiều bất ngờ cho khán giả với bài hát “Bắc Ðẩu” viết về sự hy sinh cao quý của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Bích thuộc Chi đoàn 2, Thiết đoàn 18 Kỵ binh Thiết Giáp đã tử trận vào những ngày của trung tuần tháng Tư năm 1972 gần bên bờ sông Thạch Hản, tỉnh Quảng Trị. Còn nhớ vào cuối mùa Xuân năm 1972, cộng sản Bắc Việt đã tung quân ào ạt vượt qua sông Bến Hải, nơi ranh giới chia cắt hai miền đất nước để chọc thủng phòng tuyến của Sư đoàn 3 bộ binh đang trú đóng tại đây và tiến sát tới thị xã Ðông Hà. Các đơn vị Thiết Giáp được điều động từ Ðà Nẳng ra để chặn đứng cuộc tiến công của địch quân và phối hợp với các đơn vị Bìệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Tình hình tạm lắng dịu vài ngày, nhưng sau đó địch quân tấn công càng lúc càng dữ dội hơn với nhiều chiến xa T-54, T-59 và PT-76 và nhứt là những đợt pháo kích liên tục bằng hỏa tiễn 122 ly và đại pháo 132 ly, cùng lúc với những hỏa tiễn SAM chống máy bay tạo thành một màn lưới lửa trên không. Chiến xa và bộ binh địch được tăng viện đều đều và tấn công theo chiến thuật “tiền pháo hậu xung” làm cho quân đội VNCH bị hao tổn rất nhiều, trong lúccác đơn vị tăng viện chưa đến kịp. Vì vậy khi địch tràn ngập phòng tuyến thì buộc lòng các đon vị VNCH được lệnh lần lượt tháo lui. Quân đội VNCH đi đến đâu thì dân chúng cũng ùn ùn di tãn theo sau lưng, khiến cho quốc lộ số 1 bị kẹt cứng. Khi các đoàn thiết-xa của Lữ đoàn Thiết kỵ chạy ngang qua Quảng Trị thì đoàn xe của dân chúng, các đơn vị Tiếp vận và Tiểu Khu cũng chạy theo và đã bị cộng quân tập kích gần quận Hải Lăng, tàn sát cả ngàn người. Cuộc giết hại đẫm máu thường dân vô tội và quân đội VNCH ở đoạn đường này sau đó được gọi là “Ðại Lộ Kinh Hoàng” mà chúng ta thường thấy những hình ảnh ghê gợn trong sách sử sau này. Ở những nẽo đường đó, thi hài của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Bích, còn có biệt danh truyền tin là “Bắc Ðẩu” như một vì sao sáng trên bầu trời ngọc bích trong xanh đã bị đạn pháo kích của Bắc quân làm cho chiếc quan tài bể nát ra từng mảnh, tổng cộng hết ba lần như câu hát của Trần Thiện Thanh “liệm xác ba lần, thịt xương nát tan”.
Ðây là một bài hát rất lạ lùng về lời ca cũng như giai điệu do hai anh em Trần Thiện Thanh và Trần Thiện Thanh Toàn thức trắng một đêm để sáng tác sau khi hay tin người bạn thân của họ là Ðại Úy Nguyễn Ngọc Bích đã hy sinh nơi chiến trường Trị Thiên. Hai ca sĩ trẻ được giao phó bài hát này là Nguyễn Hồng Nhung và Lâm Nhật Tiến cho biết họ đã tập luyện rất gian nan và dành nhiều thời giờ tìm hiểu nội dung cũng như từng lời ca, nốt nhạc để cố gắng diễn tả thật trọn vẹn bài hát này. Trả lời cho một cuộc phỏng vấn trên báo Trẻ sau khi trình diễn xong, Nguyễn Hồng Nhung đã tâm sự như sau: “Bài “Bắc Ðẩu” này em mới nghe lần đầu. Tên của bài hát thật là lạ lẫm. Nhưng em đặt hết tin tưởng vào người nhạc sĩ hướng dẫn tập luyện là anh Trúc Hồ và người partner là anh Lâm Nhật Tiến... Chiến tranh đồng nghĩa với hy sinh và sự hy sinh cao cả của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Bích đã tạo ra những cảm xúc mãnh liệt khiến cho nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác ra “Bắc Ðẩu” . Lúc tập dợt bài hát này, em chưa thấm thía tới ruột gan. Nhưng khi đứng trong không gian yên tĩnh của sân khấu ... tập trung vô bài hát với từng câu từng chữ trong đầu, thả hồn mình vô bối cảnh bài hát ... nước mắt tự nhiên ứa ra chứ em đâu có khóc!” .
Bài hát này đã lâu lắm rồi chúng ta mới có dịp nghe lại, chắc chắn qua tiếng hát điêu luyện, dáng dấp oai hùng của Lâm Nhật Tiến trong quân phục Thiết Giáp với chiếc mũ màu đen hợp cùng sự trẻ trung xinh xắn nhưng pha chút u buồn, thê lương của Nguyễn Hồng Nhung sẽ khiến cho phần kết thúc chương trình Nhật Trường-Trần Thiện Thanh 2 tạo nên một ấn tượng khó quên và bắt buộc khán giả sẽ xem lại DVD này nhiều lần mà không hề chán. Thêm một tuyệt tác phẩm của Trung Tâm Asia trong kho tàng âm nhạc Việt Nam hải ngoại xứng đáng để lưu giữ ở từng gia đình đồng hương chúng ta trong những ngày cuối tháng Tư năm nay.
Duy Khiem
Link 1:
Link 2:
Nhật Trường-Trần Thiện Thanh Kỳ 2,
hay DVD Asia-61
Bài của Dương Hà - Hoàng Nam
Hình của Trung Tâm Asia
Vào ngày Thứ Bảy 28 Tháng hai 2009, đứng trước Đại hí viện Long Beach Terrace xung quanh mình đoàn người đông đúc khiến tôi nhớ đến lần Trung tâm Asia tổ chức đại nhạc hội thu hình Nhật Trường-Trần Thiện Thanh Asia 50 tại La Mirada Theatre.Đó là show về Nhật Trường-Trần Thiện Thanh kỳ 1 vào năm 2006, mà số lượng DVD Asia 50 “Anh không chết đâu anh” vô cùng thành công về số bán.
Năm nay vào mùa Tháng Tư Đen đánh dấu 34 năm Việt Nam Cộng Hòa bị Đồng Minh Tháo Chạy bức tử, Tháng Tư oan khiên, Tháng Tư Người Lính VNCH bị gẫy súng, không khí khắp nơi phẫn uất vì Việt Nam mất đất vùng ranh giới Việt-Trung, mất các hải đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa, rồi nguy cơ Bauxite Tây Nguyên ... Tháng Tư người ta lưu luyến với hình ảnh hào hùng, những gương can đảm của người quân nhân VNCH từ Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn đến Ngụy Văn Thà, Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Văn Đương, Trần Duy Phước ... cũng nhằm ca ngợi hình ảnh đẹp đẽ của người lính Việt Nam Cộng Hòa muôn thuở bất tử vì các sự hy sinh cao cả, Trung tâm Asia tiếp tục thực hiện DVD Nhật Trường-Trần Thiện Thanh kỳ 2, tức Asia-61. Tôi xin ghi nhận những điều cảm nghĩ về show hát này, cũng như về ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh, người đem hình ảnh của người lính đi sát với âm nhạc của ông, một điều rất thú vị trong tôi.
Chương trình đại nhạc hội thu hình cho Asia-61 của Trung tâm Asia, một trong các trung tâm băng nhạc lớn và uy tín tại Little Saigon, đã huy động một lực lượng ca sĩ đông đảo và sự góp mặt của những anh cựu quân nhân thuộc Liên Hội cựu chiến sĩ Quân lực VNCH, và để thể hiện các sáng tác bất hủ của nhạc sĩ tài hoa Trần Thiện Thanh, qua các chủ đề tình yêu, quê hương và chiến tranh.

Danh sách các ca sĩ được ghi nhận, người ta thấy có sự góp mặt của các nghệ sĩ, trước 75 như Thanh Thúy, Trung Chỉnh, Anh Khoa, Thanh Lan, Ngọc Minh, Chí Tâm, Nhật Trường, Phương Hồng Quế, Chế Linh, Phương Dung ... và thế hệ sau này, như Thiên Kim, Mỹ Lan, Mỹ Huyền, Hồ Hoàng Yến, Spencer, Thùy Hương, Justin, Philip Huy, Lâm Nhật Tiến, Vũ Khanh, Như Quỳnh, Tường Khuê, Tường Nguyên, Diễm Liên, Lâm Thúy Vân, Băng Tâm, Tiến Dũng, Thanh Trúc, Châu Tuấn, Bích Vân, Nguyễn Hồng Nhung, Y Phương, Y Phụng, Đặng Thế Luân, Quốc Khanh, Ánh Minh, Ðoàn Phi, Ðan Nguyên, Trish Thùy Trang ... về phần kịch có Quang Minh, Hồng Ðào, Jonathan và Jennifer. Về emcees có 4 nghệ sĩ là Nam Lộc, Thùy Dương, Bảo Châu và Việt Dzũng.
Bài nhạc mở đầu chương là nhạc phẩm "Bà Mẹ Trị Thiên" do 2 ca sĩ Thanh Lan và Vũ Khanh trình bày. Bài hát cho thấy rằng người mẹ già có hai người con trai. Lịch sử Việt Nam là phấn đấu để trường tồn, đời mẹ chống Tây, đời con đánh Cộng. Rồi người con lớn hy sinh trên chiến trường Lộc Ninh. Cuộc chiến nơi đây thật khốc liệt, vào ngày 4/4/1972, quân CS tung một trung đoàn quân chính quy tấn công một chi đội chiến xa tăng phái cho Trung đoàn 9 BB từ biên giới rút về tăng cường cho lực lượng phòng thủ Chi khu Lộc Ninh. Ngày 5/4/1972, quân CS bắt đầu tấn công vào bộ chỉ huy tại Lộc Ninh và hậu cứ Trung đoàn 9 BB đặt trong quận l ỵ . CS mở màn bằng địa pháo và sau đó tung bộ binh, thiết giáp tấn công theo hỏa lực hùng hậu của chúng. Lực lượng trú phòng đã chống trả mãnh liệt. Vào trưa cùng ngày, CS bị đẩy lùi khi chúng cố đánh chiếm phi đạo. Ngày 6 tháng 4/1972, CS mở đợt tấn công kế tiếp với sự yểm trợ của một tiểu đoàn chiến xa T54 khoảng 30 chiếc. Pháo binh VNCH tại Lộc Ninh đã phải hạ nòng súng bắn trực xạ vào các chiến xa địch quân đang xông đến, nhưng vì áp lực quá nặng của CS, thị trấn Lộc Ninh bị tràn ngập, một phần của đơn vị phòng thủ đã vượt thoát khỏi vòng vây của địch và về đến An Lộc. Sau khi tạm mất Lộc Ninh, Trung tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân đoàn 3, đã khởi động kế hoạch bảo vệ An Lộc. An Lộc là chiến trường vang danh và vinh danh quân đội VNCH, mà hình ảnh hào hùng của Tướng Lê Văn Hưng. Theo kế hoạch thì bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn 5 BB cho Tướng Lê Văn Hưng chỉ huy và 2 tiểu đoàn của Liên đoàn 3 Biệt Ðộng Quân được trực thăng vận vào An Lộc. Cuộc di chuyển điều động quân xong vào ngày 5 tháng 4/1972. Ngày 7 tháng 4/1972, bộ Tổng Tham Mưu đã điều động Lữ đoàn 1 Nhảy Dù tăng viện cho Sư đoàn 5 BB. Sáng ngày 16 tháng 4/1972, Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù được lệnh tiếp ứng cho mặt trận Bình Long. Về các đơn vị thuộc Sư đoàn 5 BB, ngày 11 và 12 tháng 4/1972, Trung đoàn 8 BB được trực thăng vận vào An Lộc. Trước đó, Sư đoàn 5 BB được bộ Tổng tham mưu tăng viện Trung đoàn 52 của Sư đoàn 18 BB. Trung đoàn này đóng ở khu vực cầu Cần Lê, sau cuộc tấn công của CS vào các ngày 6 và 7 tháng 4/1972 thì chúng đã bị thiệt hại nặng. Sau hơn hai tháng tử chiến với quân CS, dưới sự chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng, Lực lượng VNCH đã giữ vững được An Lộc và sau đó đã khởi động các cuộc phản công giải tỏa áp lực địch quân ở các khu vực phụ cận thị xã tỉnh lỵ.
"Bà Mẹ Trị Thiên" của Nhật Trường Trần Thiện Thanh nhắc đến giai đoạn bi hùng của quân dân VNCH. Mà trên sân khấu Asia-61, khán giả đã thích thú, nức lòng với hình ảnh của các chiến binh tinh nhuệ nhất của quân lực VNCH, một thời khó quên.
"Mẹ già có một thằng con
tròn ba năm lính vẫn chưa về nhà
Mẹ còn nuôi một đứa con
ở tận Thất Sơn ra Trung Lập đồn
Mẹ chờ con ruột ở xa
thương yêu mẹ dành cho thằng con nuôi
Mẹ đợi một sớm bình yên
hai thằng con mẹ về vui với tuổi già
Rồi mẹ sẽ kể con nghe
năm mẹ mười tám mẹ đánh Tây công đồn
Rồi mẹ sẽ kể con nghe
mùa thu năm bốn mẹ mang mang tủi buồn….
Thằng Tây thằng Cộng bất nhân
chia đôi nước Việt, chia con sông gần
Còn đây còn từng đêm sâu
dòng xanh Bến Hải ngậm muôn đời sầu
Mẹ nuôi mẹ dạy đứa con
cho con đánh giặc cho dân yên lòng
Một ngày mẹ đợi bên sông
bờ Nam Thạch Hãn, đợi tin con diệt thù ..
Nào ngờ có một lần kia
Thằng Hai anh dũng chiến trường Lộc Ninh
Chuyện đời có tử có sinh
có con đi lính hy sinh là thường
Mẹ ngồi bên cỗ áo quan
long lanh quốc kỳ hai hàng bội tinh
Mẹ buồn mà mắt mẹ vui
“Con mẹ vị quốc vong thân chiến trường”
Rồi ngày tháng ngày qua
đây mảnh vườn mẹ xới, luống khoai mẹ gầy
Mẹ định cưới vợ cho con
thằng con nuôi lính, thằng con sao thiệt thà …
Ngày kia bọn giặc kéo về
băng qua xóm mẹ giết dân trả thù
Sợ con chiều chiều hay qua
trầu cau con hái về dâng mẹ già
Mẹ đi mẹ chạy lên đồn
tin con biết giặc đang trên ruộng nhà
Gặp thằng giặc Cộng tinh ma
hỏi mẹ, mẹ mắng ! bèn bêu đầu già
Khi con về, xác mẹ thành xương mọc ruộng khô
Măng khóc tre trên mảnh đất quê
Khi con về, khi con về thê thảm nào hơn
Ôi nỗi buồn biết thuở nào nguôi
Ôi ! Mối thù đến thuở nào vơi !"
Trong 21 bài hát và một vở kịch, và nhiều hoạt cảnh ngoạn mục của Asia-61, màn Tân cổ giao duyên do 2 nghệ sĩ Chí Tâm và Ngọc Huyền trình diễn qua bài "Tạ Từ Trong Đêm", là một tiết mục cần có cho người lớn tuổi khi tâm tư chôn chặt với nỗi nhớ cố hương.
Bạn chúng tôi, nhà văn Phạm Tín An Ninh bên Vương quốc Na Uy khi viết về Nhật Trường Trần Thiện Thanh và bài hát "Tạ Từ Trong Đêm", đã ghi nhận như sau:
‘’ "Nhạc sĩ của Lính" là tên mà rất nhiều người miền Nam đã đặt cho anh. Bởi anh đã viết và hát trên 200 ca khúc, không phải chỉ về đời lính, về người tình của lính, mà còn ngợi ca người lính. Sự ngợi ca của anh không phải là những bản hùng ca rầm rộ tiếng quân hành, nhưng nó nhè nhẹ len lỏi vào tận cùng tâm thức, khua động những tình cảm rất thật, rất người. Nhạc của anh đã làm cho người ta hiểu và yêu lính hơn, và làm cho chính người lính thấy yêu đời lính của mình hơn. Những người lính với đầy đủ những bi hùng, nhưng cũng đầy ắp những lãng mạn, vị tha và nhân bản...
Từ giữa thập niên 60, chiến trường miền Nam bắt đầu sôi động, hàng hàng lớp thư sinh phải từ giã mái trường, phố thị ,"xếp bút nghiên theo việc kiếm cung". Người lính miền Nam lúc ấy được thi ca nói tới như là những chàng tuổi trẻ hiền lành, lãng mạn, đi hành quân như vui thú với rừng núi sông hồ, mà hành trang lúc nào cũng kèm theo thơ túi, rượu bầu và hình ảnh một người tình nho nhỏ ở hậu phương... để cuối cùng đành nói một lời khuyên:
" Nếu em biết rằng, có những người đi đấu tranh cho đời
mang lời thề lên miền sơn khê
Từng đêm địa đầu hun hút gió sâu
Nếu em đã gặp mẹ già thương con khấn nguyện đêm rằm
Vợ yêu chồng đang áo lạnh từng đông
Thì duyên tình mình có nghĩa gì không ? "
(Tạ Từ Trong Đêm)
Những khúc hát này ngày xưa, những người cùng thế hệ thời ấy ai cũng có lần đã hát. Những tiếng hát đó không phải là những tiếng kèn hung hãn thúc quân vào trận mạc, nhưng chính là những làn gió ngát hương trên từng bước quân hành của người lính chiến miền Nam. Nó không làm át đi phần nào tiếng súng nhưng có lẽ đã làm dịu bớt đi những vết thương, những khốn khổ, chia lìa của cả một thời ly loạn."
Ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung khi được hỏi về người lính VNCH, vì ra đời ở miền Bắc và cô ra đời sau cuộc chiến, cô cho biết là cô chỉ biết hình ảnh người lính VNCH qua âm nhạc Trần Thiện Thanh và mến mộ. Cô hát nhạc về người lính VNCH với tất cả tấm lòng trân trọng và quý mến.
Nguyễn Hồng Nhung cùng Lâm Nhật Tiến trình bày nhạc phẩm "Bắc Đẩu", nội dung rất bi thương khi người chiến sĩ mũ đen thiết giáp Nguyễn Ngọc Bích chết trận La Vang, rồi "bị liệm xác" đến ba lần, khi thịt xương nát tan. Chính cái chết 3 lần của Nguyễn Ngọc Bích quá thương tâm, Trần Thiện Thanh dâng lên nỗi cảm xúc, đã sáng tác ra bài ca này. Lời bài hát:
"Người bỗng trở thành vì sao Bắc Đẩu,
lẻ loi tinh cầu đêm đen không dấu
Cây "Cầu Ga" nhỏ anh qua anh qua
Vì sao Bắc Đẩu trôi dạt đêm mưa,
người xa cách người, nước mắt tiễn đưa
đã thấy xót xa
Một lần anh đi đã thấy xót xa từ ngày hôm qua
Đây thinh không thiên thần lên tiếng hát,
chiêu hồn người từ hỏa ngục dương thế.
Kia bầu trời Ngọc Bích đã thênh thang ...
Ôi ...lời mời gọi anh bước chân sang.
Xin muôn năm như vì sao sáng đó
Hỡi người định mệnh là vì sao lẻ.
Dậy đi Bắc Đẩu!
Bừng mắt dậy soi sáng thiên thu.
Người tên "Bắc Đẩu" chết trận hôm nao?
Một áo quan đóng vội một chuyến cuối phiêu du ...
"Có thấy dấu chiến xa của người của hôm qua ?"
"Có thấy chiếc mũ đen của người lạc trong đêm?"
Người tên "Bắc Đẩu" chết trận La Vang, liệm xác ba lần ...
Ngọc bích cũng tan chỉ còn vì sao thôi, chỉ còn vì sao thôi ...
Cuộc đời vài mươi năm
Người vội về xa xăm"
Một điểm độc đáo của Nhật Trường - Trần Thiện Thanh là ông là người đa tài như ca hay, sáng tác nhạc hay, viết nhạc kịch và đạo diễn hay,... Bởi vậy nhà văn Nguyễn Đình Toàn cho nhận xét là: “Nhạc Trần Thiện Thanh không ai hát hay hơn Nhật Trường”.
Nói đến Nhật Trường là phải nói đến hai người ở nơi ông: một Nhật Trường ca sĩ và một Nhật Trường là một nhạc sĩ dưới tên Trần Thiện Thanh là hai tên tuổi đã có những đóng góp lớn cho nền ca nhạc Việt Nam từ hàng chục năm qua trong lịch sử tân nhạc Việt Nam. Nói với khán thính giả, những ai hâm mộ ông, ông chia sẻ tâm sự khi đến Hoa Kỳ định cư:
"...Mơ ước trong tương lai của tôi còn tùy thuộc vào khán thính giả còn yêu thích mình hay không, tiếng hát của tôi còn được đón nhận nữa hay không? Nhưng có một điều tôi sung sướng nhất ở đây là tôi được hát cho khán thính giả của tôi, hát cho họ, vì họ và mang ơn họ. Hát như chưa bao giờ được hát. Tôi ước mơ rằng cuối đời còn lại của tôi sẽ còn dịp được hát mãi để phục vụ cho khán giả yêu thương."
Trang Bách khoa tự điển Wikipia online viết về tiểu sử ông như sau:
"Trần Thiện Thanh (12 tháng 6 năm 1942 – 13 tháng 5 năm 2005) là một nhạc sĩ Việt Nam chuyên viết về nhạc trữ tình. Bút hiệu ông thường dùng là TTT nhưng thỉnh thoảng ông cũng ký tên Anh Chương (tên con trai ông), Trần Thiện Thanh Toàn (em trai ông, đã tử trận). Ông còn là ca sĩ nổi tiếng với nghệ danh Nhật Trường.
Trần Thiện Thanh sinh năm 1942 tại Phan Thiết. Ông đến Sài Gòn năm 1958 và chẳng bao lâu giọng hát trau chuốt của ông được giới yêu nhạc Sài Gòn yêu mến ngay.
Ông nguyên là giáo viên trung học, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan năm 1965, phục vụ tại Cục Tâm lý chiến Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa từ năm 1965 cho đến cuối tháng tư năm 1975. Ông làm việc tại Ðài Phát thanh và sau đó Truyền hình Quân Ðội, từng là Trưởng ban văn nghệ của Đài và sau năm 1968 ông còn phụ trách thêm chương trình phóng sự chiến trường.
Ngoài ra, ông còn điều hành trung tâm phát hành nhạc và thâu băng tên là “Tiếng hát đôi mươi”. Đầu thập niên 1960, Nhật Trường lập ban Tứ Ca Nhật Trường gồm 3 nữ ca sĩ: Như Thủy (em gái của ông), Vân Quỳnh và Diễm Chi ("nữ hoàng" của phong trào du ca chuyên hát nhạc Nguyễn Đức Quang, Ngô Mạnh Thu, Miên Đức Thắng, Bùi Công Thuấn) hát phụ họa cùng với ông.
Trong những năm cuối thập niên 1960, Hùng Cường, Chế Linh và Nhật Trường thường mặc quân phục lên sân khấu để hát nhạc lính. Ông hoạt động rất nhiều với các đài phát thanh và truyền hình Việt Nam thời đó. Trong các phim kịch với đề tài người lính, Nhật Trường hay ca diễn với Thanh Lan.
Đầu thập niên 1970, ông thực hiện một số nhạc cảnh về Đại úy Nguyễn Văn Đương trong đó ông đóng vai người lính còn Thanh Lan đóng vai người vợ hậu phương Nguyễn Thị Lệ. Lúc đó, Nhật Trường và Thanh Lan thường hát chung với nhau. Đây là một tiết mục rất ăn khách trên TV thời đó. Loạt nhạc cảnh này cũng được thâu thành phim với tên “Trên Đỉnh Mùa Đông”.
Hai chủ đề lớn trong sáng tác của ông là tình yêu và tình lính. Ông sáng tác nhiều nhạc về lính, nhưng nhạc lính của ông thường không có thù hận, gay gắt hoặc kích động, thúc quân hoặc u uất, bi thảm mà nhạc của ông thường trong sáng vui tươi làm thi vị hóa và lãng mạn hóa đời lính gian khổ.
Sau 1975, ông nằm trong danh sách những nghệ sĩ bị chính quyền cộng sản cấm hoạt động. Tới năm 1984, Trần Thiện Thanh được phép hoạt động lại. Tuy nhiên, ông từ chối làm việc dưới chế độ mới.
Trong những năm ít xuất hiện trên sân khấu, Trần Thiện Thanh vẫn soạn nhạc. Tới năm 1993 thì ông sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình, ODP. Sau một thời gian sống tại Mỹ thì ông kết duyên với nữ ca sĩ Mỹ Lan.
Trần Thiện Thanh bị ung thư phổi. Ông mất vào ngày 13 tháng 5 năm 2005 tại nhà riêng ở thành phố Westminster, Quận Cam, Nam California.
Trần Thiện Thanh sáng tác khoảng 100 ca khúc, trong số đó có những bài nổi tiếng như :
Ai nói yêu em đêm nay
Anh không chết đâu anh, (vinh danh Đại úy Nguyễn Văn Đương)
Anh về với em
Bảy ngày đợi mong
Biển mặn. (Đây là tác phẩm gần như kể về cuộc đời nhạc sĩ Trần Thiện Thanh)
Chiếc áo bà ba, mang âm hưởng dân ca
Chiều trên phá Tam Giang
Chuyện hẹn hò
Chuyến đi về sáng, (viết chung với Mạnh Phát)
Đám cưới đầu xuân
Hoa biển, (viết tặng Hải quân VNCH, sáng tác chung với Anh Thy, tên thật là Phạm Văn Khổn, cố chuẩn úy nhất hải quân)
Người yêu tôi khóc
Không bao giờ ngăn cách
Lâu đài tình ái
Mùa đông của anh
Mười sáu trăng tròn
Người chết trở về
Người ở lại Charlie, (vinh danh Đại tá Nguyễn Đình Bảo)
Rừng lá thấp, (viết tặng Đại Úy Vũ Mạnh Hùng hy sinh trên cầu sông Thị Nghè)
Tình có như không
Tình thư của lính, (sáng tác trong biến cố Tết Mậu Thân 1968. Trong dịp này ông là Trung đội trưởng Trung đội ứng chiến phòng thủ Biệt Khu Thủ Đô)
Tình đầu tình cuối
Trên đỉnh mùa đông
Tình thiên thu (Chuyện tình Mộng Thường)
Từ đó em buồn
Tuyết trắng, (viết tặng Không quân VCH)
Yêu, ...
Có lần Trần Thiện Thanh được hỏi vì sao ông chọn tên Nhật Trường. Ông trả lời: "Hồi nhỏ tôi thích ca hát lắm nhưng bố mẹ tôi không cho. Thế là tôi phải chờ đến ban đêm đợi bố mẹ đi ngủ rồi mới dám hát. Nhiều khi ban ngày thèm hát quá mà phải đợi đến tối, thấy ngày sao dài ghê nên tôi chọn tên Nhật Trường, có nghĩa là ... ngày dài.".
Sau khi định cư ở Hoa Kỳ, Trần Thiện Thanh gom bài Người bên lề cõi sống cùng với các bản khác như Đôi tiếng tự do, Từ nửa vòng trái đất, Ở giữa muộn phiền, Trại cấm,... để làm thành CD Đôi tiếng tự do.
Năm 2006, Trung tâm Asia có thực hiện chương trình đặc biệt Nhật Trường Trần Thiện Thanh - Anh không chết đâu anh (Asia DVD 50) và năm 2009 thực hiện chương trình "Nhật Trường - Trần Thiện Thanh 2" (Asia DVD 61), để vinh danh ông..."
Một người con trai ông là Trần Thiện Anh Chương, khi đi hát có lấy tên là Anh Chương hoặc Nhật Chương, đôi khi lấy tên là Trần Thiện Thanh Toàn (để nhớ chú) nhưng sau này khi làm việc trong vai trò ký giả thì chỉ lấy tên là Thanh Toàn, hiện cộng tác với đài truyền hình SBTN và Trung tâm Asia.
Hiện nay, tại Việt Nam, chỉ có một số ít ca khúc của ông được phép lưu hành chính thức như Chiếc áo bà ba, Tình đầu tình cuối, Gặp nhau làm ngơ, Bảy ngày đợi mong... Từ năm 2000, nhạc của Trần Thiện Thanh không còn được cấp phép nữa.
Trần Thiện Thanh - Âm Nhạc Bảo Vệ Quê Hương:
Trần Thiện Thanh Nhật Trường đã hy sinh một đời bằng trái tim, bằng khối óc để nói lên hình ảnh người lính với lý tưởng bảo vệ sơn hà, người trai thế hệ không sờn lòng gìn giữ từng tất đất quê hương, anh ra đi nơi tuyến đầu mang theo màu da nắng cháy từ vùng chiến địa của Mùa Hè Đỏ Lửa 72 với An Lộc, Bình Long, Kontum hay miền trường sơn rừng núi với Dak To, A Shau, Chu Pao hay Khe Sanh, hay vùng địa đầu có Đông Hà, Hải Lăng, Triệu Phong, Thạch Hãn, nơi có sương mù buồn tênh của vùng Quảng Trị… nơi nào có chiến tích là được Nhật trường đưa vào những ca khúc của anh. Trần Thiện Thanh Nhật Trường nói thay cho người lính bằng dòng nhạc của ông, bằng giọng ca của ông. Những bài hát bất tử với quân dân Việt Nam Cộng Hòa: Chiều Trên Phá Tam Giang, Góa Phụ Thơ Ngây, Tưởng Người Chết Đi và điều đặc biệt nhạc Trần Thiện Thanh đã vinh danh những anh hùng tiêu biểu cho Việt Nam Cộng Hòa đi vào quân sử một thời chiến chinh: Ôi, những Trần Thế Vinh trong bài Bay Lên Cao Ði Anh, Trần Duy Phước trong Giấc Ngủ Trên Ðồi Xanh, Nguyễn Văn Ðương trong Anh Không Chết Ðâu Em, và Nguyễn Ðình Bảo trong Người Ở Lại Charlie.
Trước 75 Nhật Trường và Thanh Lan dựng những nhạc cảnh mà chúng ta xem khi họ song ca trên TV từ bài Góa Phụ Thơ Ngây, Chiều Trên Phá Tam Giang, Người Ở Lại Charlie đến Anh Không Chết Đâu Em, nói về cái chết anh dũng của đại úy Nguyễn Văn Đương. Dưới áp lực mưa pháo nặng nề lên căn cứ 30 và 31 tại mặt trận Khe Sanh, đại úy Đương, pháo đội trưởng B-3 Dù, báo cáo tăng địch xuất hiện dưới chân đồi và đích thân bắn trực xạ nát hai chiếc tăng địch. Trong khi Tiểu Đoàn 3 Dù anh dũng giữ từng thước đất, từng giao thông hào. Nhưng quân số Dù không đủ sức ngăn chặn cuộc tấn công mưa pháo và tăng địch cày nát chiến hào. Để rồi cuối cùng pháo đội trưởng Nguyễn Văn Đương vĩnh viễn ra đi tại Khe Sanh. Sau đó bài anh hùng ca Anh Không Chết Đâu Em, ám chỉ anh sẽ mãi mãi lưu danh trong sử xanh, anh mãi mãi sống trong âm nhạc Việt Nam Cộng Hòa, trong lời nhạc của Trần Thiện Thanh, với nhịp điệu luyến láy ở cung La thứ, tiết tấu hào hùng thiết tha để diễn tả nỗi niềm tiếc nuối của tất cả chúng ta:
Trần Thiện Thanh - Âm Nhạc Về Tình Yêu:
Dòng nhạc Trần Thiện Thanh chia ra hai chủ đề chính: Lính và Tình Yêu. Về Lính, như trên đã bàn là ông có nhiều bài về lính nhất. Trong số hơn 200 ca khúc ông sáng tác trước và sau năm 1975, nhiều ca khúc nói về người lính của chúng ta, trong ý niệm rất nhân bản, và mang nét trữ tình với lính yêu trong tình yêu vốn nhẹ nhàng. Bây giờ tôi xin trình bày về những bài tình ca thuần túy không có màu áo lính xen vào. Chủ đề Tình Yêu của Trần Thiện Thanh có rất nhiều bài dễ thương như: Khi Người Yêu Tôi Khóc, Bảy Ngày Đợi Mong, Hoa Trinh Nữ, Lâu Đài Tình Ái (phổ thơ Mai Trung Tĩnh), Cho Anh Xin Số Nhà, Mùa Đông Của Anh, Ai Nói Yêu Em Đêm Nay,... Những từ ngữ trong bài ca của Trần Thiện Thanh không cầu kỳ, dễ hiểu, nét nhạc dễ nghe, kỹ thuật viết nhạc chú trọng đưa những tâm tình đi vào lòng thính giả. Sau năm 1975, Trần Thiện Thanh vẫn sáng tác, bản Chiếc Áo Bà Ba mang âm hưởng dân ca quê hương Nam phần. Điểm hay là nhạc Trần Thiện Thanh nếu do Nhật Trường ca thì lại xuất sắc, theo nhiều trường hợp khác thì nhạc sĩ đặt nhạc không hẳn người ấy sẽ là ca sĩ ca hay, nhưng với Trần Thiện Thanh thì quá đặc biệt.
Theo Trần Củng Sơn viết về Nhật Trường Trần Thiện Thanh:
"Dòng nhạc Trần Thiện Thanh chia ra hai chủ đề chính: Lính và Tình Yêu. Về Lính, phải công nhận là ông có nhiều bài về Lính nhất. Những ca khúc về Lính của Việt Nam Cộng Hòa đa số không mang tính chiến đấu cao như những bài của miền Bắc Cộng sản nhưng đậm nét trữ tình. Đó là lý do tại sao bây giờ sau hơn 30 năm, ở trong nước trên những chiếc tắc xi hay xe đò, khách vẫn được cho nghe những giọng hát Như Quỳnh, Tuấn Vũ ca những bài hát Lính nghe rất mùi.
Chủ đề Tình Yêu của Trần Thiện Thanh có những bài dễ thương như Khi Người Yêu Tôi Khóc, Bảy Ngày Đợi Mong, Hoa Trinh Nữ. Về phổ thơ, bản Lâu Đài Tình Ái phổ thơ Mai Trung Tĩnh thật lãng mạn, bài Chiều Trên Phá Tam Giang phổ thơ Tô Thùy Yên cũng thành công.
Ca từ của Trần Thiện Thanh không cầu kỳ, dễ hiểu, nét nhạc dễ nghe, kỹ thuật viết nhạc vừa đủ để đưa những tâm tình đi vào lòng thính giả. Sau năm 1975, Trần Thiện Thanh vẫn sáng tác, bản Chiếc Aùo Bà Ba mang âm hưởng dân ca Nam Bộ nghe quen thấy cũng hay. Những ca khúc ông viết ở hải ngoại thường do chính tác giả trình bày, nếu do những tiếng hát ăn khách ca, có thể phổ biến rộng rãi hơn. Trong một lần thoáng nghe Nhật Trường đưa câu vọng cổ vào bài ca tân nhạc trên sân khấu, ý nhạc này cho phong cách mới mẻ. Điều này chứng tỏ phong độ của nhạc sỹ Trần Thiện Thanh, không muốn dẫm vào lối mòn trong lúc sáng tác."
Hoàng Nam, tôi còn nhớ vào khoảng giữa thập niên 60, người láng giềng nhà tôi vốn mê một nhạc phẩm bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, ông nghe say sưa, nghe triền miên. Tôi nhớ giờ prime time của bản nhạc này là 6 hay 7 giờ sáng trước khi ông đi làm và giờ 7 đến 8 giờ tối trước khi đi ngủ. Ngày đó, nếu tôi nhớ không lầm thì ca sĩ là Hà Thanh đã ru chúng tôi ngủ qua tình khúc "Không Bao Giờ Ngăn Cách":
"Anh về với em rồi mai lại đi
Đường xa mang theo bao nhiêu tình ý
Viết tên người yêu lên ba lô nặng trĩu
Đêm quân hành dừng chân đồi hoa tím
Nhớ xưa đôi mình hẹn nhau mà sao sáng
Đâu bằng đôi mắt em
Chúng mình cách xa mà vẫn gần nhau
Tình yêu không mau phai như màu áo
Dẫu cho thời gian đem tâm tư vào nhớ
Lá rơi gọi mùa thu về sân úa
Vẫn không bao giờ
Không bao giờ ngăn cách đâu em..."
Ông láng giềng nhà tôi là người đã giới thiệu tôi dòng nhạc tình ca boléro về người lính của Trần Thiện Thanh, nhà ở Việt Nam chia chung vách nên giờ prime time của ông cũng là giờ prime time của tôi, khiến tôi nghe trong đam mê và rồi tôi mãi hát theo:
Không bao giờ
Không bao giờ ân tình lại vỡ đôi
Một người đi nghe thương sao thương nhiều quá
Dáng một người em xinh sao quá xinh màu má
Không bao giờ
Không bao giờ giữa mùa hè tuyết rơi
Một đời hoa không khi nào hai lần nở
Trái mộng còn trinh nguyên khi đón anh trở về..."
Tôi thích ca từ mà Trần Thiện Thanh dùng như: sao sáng đâu bằng đôi mắt em, thời gian đem tâm tư vào nhớ, ân tình lại vỡ đôi, giữa mùa hè tuyết rơi, đời hoa không khi nào hai lần nở,.... Thật tuyệt vời. Chính lời nhạc như vậy thu hút sự đắm say của nhiều người.
Nhạc sĩ Lê Dinh đã có lần nói rằng chủ đề Lính đã tạo ra những bài hát hay và thể điệu Boléro của tân nhạc Việt Nam. Mà Nhật Trường -Trần Thiện Thanh thường dùng thể điệu Boléro và chủ đề Lính. Nên tôi nghĩ dòng nhạc Nhật Trường -Trần Thiện Thanh dễ dàng nhập tâm khán thính giả từ thời chiến đến giai đoạn về sau.
Năm 1972, Nhật Trường đã hoạt động bên lãnh vực phim ảnh truyền hình. Ông thực hiện cuốn phim Trên Đỉnh Mùa Đông, do chính ông viết cốt truyện phim để nối kết đưa bài hát Anh Không Chết Đâu Em, như nhạc đệm cho phim kịch (theme song), mà nội dung phim nói về câu chuyện anh hùng mũ đỏ Nguyễn Văn Đương với người vợ là Nguyễn Thị Lệ. Ông trực tiếp làm đạo diễn cuốn phim này, và đóng vai chính (Nguyễn Văn Đương) cùng với ca sĩ Thanh Lan (vai Nguyễn Thị Lệ). Phim Trên Đỉnh Mùa Đông đã phát sóng vào năm 1972 trên đài 9 của Đài truyền hình Sài Gòn. Nguyễn Văn Đương và Nguyễn Thị Lệ là hai nhân vật có thật ngoài đời trước 1975, không do hư cấu.
Trên sân khấu Asia-61, ca sĩ Thanh Lan đạo diễn làm sống lại vở nhạc kịch Trên Đỉnh Mùa Đông.
Nhưng phần diễn xuất ca sĩ trẻ Quốc Khanh đã thủ vai Đại Úy Pháo Binh Dù Nguyễn Văn Đương và ca sĩ Như Quỳnh đóng vai người vợ tên là Nguyễn Thị Lệ, vở nhạc kịch được diễn xuất khá ngoạn mục.
Nhạc phẩm tiêu biểu cho tình xuân Phút Giao Mùa mà Trần Thiện Thanh sáng tác tặng Trần Duy Phước của Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù VNCH vào năm 1965. Bài ca do Ngọc Minh và Trung Chỉnh trình bày. Xuân lại về trong khói lửa chiến tranh. Rồi mùa xuân vẫn xanh, xanh như cuộc tình em với anh, lời ca thơ mộng:
"Xuân này anh không về,ngàn câu thề không chắc em vui,
quà xuân anh chẳng có, gác giặc từng giờ
Đời lính chiến lấy gì gửi về em?
Tiền đồn heo hút nhắc em kỷ niệm ấu thơ.
Hỏi "em có nghe trong tâm hồn gợi giây phút xưa?"
Năm nao đêm giao thừa ngày khói lửa chưa kín quê hương,
Và đôi ta nhỏ bé, thức xem giao thừa,
Kể chuyện vu vơ và thức trong mộng mơ.
...Rồi pháo nổ khai xuân để mình dỗi hờn xa xăm
Khi đường trần dập dìu người đi hái lộc đầu năm.
Rồi từng xuân đến bắt anh giã từ ấu thơ.
Rồi xuân chiến chinh phút giao mùa còn anh với anh
Xuân chưa ôm đôi đời
Lòng xin một phút giây mơ thôi..."
Sau khi thành công của cuốn phim truyền hình Trên Đỉnh Mùa Đông, vào năm 1974 Nhật Trường tiếp tục làm cuốn phim thứ hai mang tên Mộng Thường (tên ban đầu là Người Chết Trở Về) để giới thiệu bài hát Tình Thiên Thu Nguyễn Thị Mộng Thường cũng do ông viết truyện phim. Nội dung câu chuyện tình có thật này đã xẩy ra khi Thiếu Úy Biệt Động Quân Phạm Thái gặp kiều nữ tiếp viên hàng không Việt Nam là Nguyễn Thị Mộng Thường tình cờ một chuyến bay của Air Vietnam, khi Phạm Thái lên đường đi tác chiến trong biến cố Mùa Hè Đỏ Lửa, năm 1972. Tại mặt trận An Lộc Phạm Thái đã bị thương và mất tích, mọi người tưởng rằng chàng đã hy sinh tại trận địa khiến cho Mộng Thường phải đau khổ vì cuộc tình bị dang dở oan khiên. Sự thật thì Phạm Thái được cứu sống và ẩn náu trong một nhà thờ. Sau trận chiến chàng được vinh thăng Trung Úy. Phạm Thái đã gửi thư mời hôn thê Mộng Thường ở Sài Gòn lên An Lộc dự buổi lễ lên lon mới. Thật là một oan khiên khi Mộng Thường đón xe đò lên gặp chàng. Chiếc xe đò mà nàng đi chẳng may trúng mìn của CS gài trên đường. Nguyễn thị Mộng Thường bị thương nặng, và qua đời. Trần Thiện Thanh lại sáng tạo viết kịch bản kiêm đạo diễn phim truyện Mộng Thường, rồi đóng vai chính (Phạm Thái) cùng với Thanh Lan (vai Mộng Thường). Phim này đã được trình chiếu trên Đài truyền hình Sài Gòn trước 1975. Hai nhân vật trong phim này là chuyện thật ngoài đời. Phim đề cao một mối tình thật đẹp trong thời chinh chiến, dù kết cuộc quá bi thương.
Ca sĩ Mai Ngọc Khánh nhận xét tài nghệ của Trần Thiện Thanh: "Anh Nhật Trường rất là người tài hoa, bài nhạc nào anh đặt cũng hay. Tôi nghĩ rằng mình không có đủ sức để mà hát những bài của ảnh, không đủ trí nhớ để mà hát những bài của anh Nhật Trường. Bài nào của anh cũng rất là phóng khoáng, nhạc lính cũng như nhạc tình. Bài Tình Thư Của Lính, Người Ở Lại Charlie, hay Chuyện Tình Mộng Thường, nhạc của ảnh bất hủ."
Trên sân khấu Asia-61, tương tự như vở kịch trước, ca sĩ Thanh Lan đã viết lại phần đối thoại, phân cảnh và đạo diễn cho thế hệ đàn em diễn xuất. Các ca sĩ trẻ ở hải ngoại thủ diễn vai trò xuất sắc lắm, họ đã làm sống lại vai trò ngày xưa của của Thanh Lan và Nhật Trường, đứng trên sân khấu hoành tráng, lộng lẫy của Asia Live-show 61.
Được chú ý nhiều nhất là nhạc kịch Tình Thiên Thu Nguyễn Thị Mộng Thường do Băng Tâm thủ vai Mộng Thường và Đan Nguyên vai Phạm Thái ca diễn. Có thể nói vở nhạc kịch này đã gây xúc động khán giả không ít.
Đó là những ghi nhận từ Dương Hà - Hoàng Nam về đôi nét qua tác phẩm Asia-61. Một DVD nên xem, để tưởng nhớ đến người nghệ sĩ tài hoa Nhật Trường - Trần Thiện Thanh, cũng để vinh danh quân lực Việt Nam Cộng Hòa nhân dịp tưởng nhớ về ngày đau thương 30 tháng Tư Đen của mỗi năm, mà năm nay đã 34 năm qua rồi!
Dương Hà - Hoàng Nam
* Được biết Trung Tâm Asia dự định tổ chức Ðại Nhạc Hội thu hình “Asia kỷ niệm 30 năm thành lập: Anh Bằng-Một đời cho âm nhạc” vào ngày 11 Tháng Bẩy 2009 tại Đại hí viện Long Beach Terrace, với sự góp mặt của toàn thể nghệ sĩ tài danh của Trung Tâm Asia, cùng những khách mời thật đặc biệt.
Ðại nhạc hội thu hình kỷ niệm 30 năm thành lập này, sẽ có hai buổi trình diễn, vào lúc 1 giờ chiều và 7 giờ tối, và sẽ được phát hành thành Asia DVD 62.
Theo Trung Tâm Asia thì “Asia kỷ niệm 30 năm thành lập: Anh Bằng-Một đời cho âm nhạc” sẽ là một chương trình vĩ đại, một cố gắng vượt bực của Trung Tâm Asia nhằm đánh dấu 30 năm hoạt động, và nhằm tri ân, giới thiệu đến các khán thính giả người sáng lập Trung Tâm Asia, cùng những tác phẩm lừng danh nhất sau 1975 của nhạc sĩ Anh Bằng, cũng như cả cuộc đời và sự nghiệp của ông đã cống hiến cho nền âm nhạc Việt Nam, cũng như cho Trung Tâm Asia suốt nhiều thập niên qua.
Nhạc sĩ Anh Bằng, được coi như là “cổ thụ” trong làng ca nhạc Việt Nam, cùng thời với các tên tuổi lớn như những nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Hoàng Trọng, Minh Kỳ, Hoài Linh, Văn Phụng, Hoàng Thi Thơ... đều đã ra đi về bên kia thế giới...
Ngoài ra, tin nhận được từ Trung Tâm Asia cũng cho biết DVD “Nhật Trường-Trần Thiện Thanh Kỳ 2” (Asia-61) sẽ được phát hành vào ngày 24 Tháng Tư 2009 này. Sau khi đã được thu hình qua đại nhạc hội vào ngày 28 Tháng Hai 2009 tại Đại hí viện Long Beach, California.
Xin đón xem DVD Asia-61 “Nhật Trường-Trần Thiện Thanh 2”, và hãy tham dự Live show Asia-62 “ASIA Kỷ Niệm 30 Năm Thành Lập : ANH BẰNG- Một Đời Cho Âm Nhạc”.
Nhạc sĩ Anh Bằng (chính giữa)