TÌM HIỂU THÊM VỀ VITAMIN D
Dược Sĩ Lê-Văn-Nhân
Trong thời gian ở trường Dược, chúng ta chỉ biết vitamin D giúp hấp thụ calcium để giữ cho xương khỏe
mạnh, và luôn luôn nhắc nhở dùng quá nhiều vitamin D sẽ có hại. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, càng ngày càng có nhiều nghiên cứu bảo vitamin D có thêm nhiều ứng dụng. Ngoài khoáng hóa xương, mức vitamin D thấp liên quan với dị ứng, hen suyễn, béo mập, bệnh tuyến giáp, đau lan tỏa, cơ co thắt yếu, hội chứng tiền kinh (PMS), bệnh tiểu đường, bệnh xơ cứng rải rác, suy giảm nhận thức, nguy cơ tim mạch, ung thư và tử vong.
Những nghiên cứu liên hệ giữa vitamin D và một số bệnh như nguy cơ tim mạch gồm bệnh tiểu đường và cao huyết áp:
Dữ liệu từ 15,000 bệnh nhân nam nữ ở Hoa-Kỳ được phân tích. Những người này không dùng thuốc bồi dưỡng vitamin D trừ thành phần trong viên đa sinh tố. Mức vitamin D được chia thành 4 nhóm ¼. Tỷ số odds (odds ratio) cao huyết áp là 1.30, tiểu đường 1.98, béo mập 2.29 và cao triglycerid 1.47 cao hơn trong nhóm mức vitamin ở mức ¼ thấp nhất so với nhóm ở mức cao nhất. Những nghiên cứu dịch bệnh học trước đây cũng đề cập đến liên hệ mức vitamin D thấp với cao huyết áp, bệnh tiểu đường và suy tim. Vitamin D có thể tác động lên hệ tim mạch qua tác dụng của hệ renin-angiotensin. Liên quan với bệnh tiểu đường có thể giải thích do tác dụng lên chức năng tế bào β của tuyến tụy và độ nhạy cảm insulin. Thiếu vitamin D có thể không gây béo mập. Béo mập đơn giản chỉ là chỉ dấu của ít tiếp xúc với ánh nắng do đời sống nhàn hạ, sống trong nhà. hay có thể vitamin phân tán mỏng trong mô mỡ, làm cho mức vitamin D xuống thấp.
Trong một nghiên cứu 4 năm, hơn 1,000 phụ nữ mạnh khỏe sau tuổi mãn kinh được phân phối ngẫu nhiên dùng vitamin D3 (cholecalciferol) 1100 đơn vị quốc tế mỗi ngày và 1400-1500 mg calcium mỗi ngày, vitamin D + calcium hay giả dược. Nhìn chung, nguy cơ ung thư giảm 60% ở nhóm kết hợp thuốc. Giả thiết vài phụ nữ ung thư không được chẩn đoán khi bắt đầu nghiên cứu, kết quả nghiên cứu cũng được phân tích không có dữ liệu trong năm đầu tiên. Trong phân tích này nguy cơ giảm 77%. Một nghiên cứu mới dịch bệnh học cũng gợi ý calcium và vitamin D có thể giảm khiêm nhường nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ tiền mãn kinh. Trong những nghiên cứu trước, thiếu vitamin D liên hệ với tăng nguy cơ ung thư vú, ruột kết, tuyến tiền liệt, tuyến tụy và buồng trứng. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng vitamin D có thể có tính chống tăng sản (proliferative) ở những lọai ung thư này.
Một nghiên cứu ở Phần-Lan cho biết mức vitamin D trung bình trong huyết thanh chỉ bằng 50% mức tối ưu đề nghị là 75-80 nmol/L. Trong thời gian theo dõi 29 năm, có 50 ca bệnh Parkinson. Đo mức 25-hydroxyvitamin D trong huyết thanh, các nhà nghiên cứu thấy những người có mức vitamin D tối thiểu 50nmol/L có 65% nguy cơ thấp hơn bệnh Parkinson hơn là những người có mức ít hơn 25 nmol/L. Nguy cơ tương đối giữa mức cao nhất và thấp nhất là 0.35 ( khoảng tin cậy 95% 0.15-0.81).
Thiếu vitamin D cũng liên quan đến nhiều bệnh mãn tính, trong đó có suy giảm nhận thức. Dữ liệu từ nghiên cứu InCHIANTI ở người ý cao tuổi trong J. Am Geriatric Soc số 46 năm 2000 dùng để xác nhận sự liên hệ giữa sa sút nhận thức ở 858 người tham dự (tuổi trung bình 74) và mức 25-dihydroxyvitamin D, Mức này thấp nghiêm trọng khi < 10 ng/mL, thiếu khi bằng 10-20 ng/mL và không đủ khi bằng 20-30 mg/mL. Bệnh nhân được đánh giá bằng những trắc nghiệm nhận thức như MMSE (Mini Mental State Examination). Sau 6 năm, những người thiếu mức 25-dihydroxy vitamin D trầm-trọng tăng 60% nguy cơ giảm MMSE 3 điểm. Một nghiên cứu khác cho thấy những người có mức vitamin D thấp dễ bị sa sút trí tuệ, đột quỵ và bệnh mạch máu não.
Tất cả những vấn đề trên từ những dữ liệu quan sát và nguyên nhân chưa rõ-ràng. Có thể bệnh nhân lu-pút (lupus) có nhiều cơ hội vitamin D thấp vì những người này tránh trực diện với ánh sáng mặt trời. Có thể những người trầm cảm hay suy yếu nhận thức thường không giang nắng và dùng thức ăn giàu vitamin D. Phần lớn những bệnh trên. các nhà nghiên cứu không chứng minh được dùng thêm thuốc bồi dưỡng vitamin D sẽ cải thiện được tình trạng. Vì không chắc chắn, đo thường xuyên mức vitamin D không được khuyên thực hiện ở người mạnh khỏe không có triệu chứng. Tuy nhiên, khuyến khích bệnh nhân dùng thức ăn giàu vitamin D và tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vẫn hợp lý.
Theo bác sĩ Marian Leslie Evatt đại học Emory tại Atlanta Hoa-Kỳ, vitamin D không còn xem là 1 vitamin, nhưng như 1 hormon có những chức năng điều hòa tự động vượt quá điều hòa hấp thụ calcium và sức khỏe của xương. Vitamin D biểu lộ tác dụng bảo vệ thần kinh qua cơ chế chống oxyt hóa, điều hòa calcium thần kinh, điều hòa hệ miển nhiễm, tăng cường dẫn truyền thần kinh và cơ chế giải độc. (theo Arch Neurol 2010 số 67).
Tiếp xúc với bao nhiêu ánh nắng mặt trời là đủ?
Phần lớn vitamin D trong cơ thể do tia tử ngọai chuyển 7-dehydrocholesterol thành Previtamin D3 rồi thành vitamin D3 hay cholecalciferol. Do đó, tại các xứ nhiệt đới như Việt-Nam khó xảy ra, trừ khi người bệnh không thể bước ra khỏi nhà.
Tại những vùng lạnh ở bắc bán cầu như Canada hay vùng đông bắc Hoa-kỳ, mùa lạnh dài và thiếu ánh nắng, nên có thể thiếu ánh nắng và thiếu vitamin D. Ngay cả một số phụ nữ ở California sống ở vùng quá nóng và quá lạnh, ở trong nhà nhiều hơn đi ra ngoài, cũng có thể thiếu vitamin D.
Lời khuyên sử dụng ánh nắng là chỉ vài phút tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời ở mặt, cổ hay cánh tay mỗi ngày có thể chưa đủ. Tại vùng nắng nóng Arizona, 235 người da trắng không phải gốc Châu Mỹ La-Tinh, 38% người Mỹ gốc La-Tinh và 56% người da đen thiếu vitamin D (< 20 ng/mL). Ngay cả khi phơi nhiều giờ buổi chiều mùa đông với ánh nắng tại Massachusetts cũng khó tạo đủ 400 IU vitamin D. Ngòai ra khi tiếp xúc quá nhiều ánh nắng, người da trắng lo ngại bị ung thư da.
Làm sao biết được thiếu vitamin D?
Triệu chứng thiếu vitamin D gồm đau nhức xương và yếu cơ. Chỉ khi nào nghi ngờ thiếu vitamin D bác sĩ mới cho làm xét nghiệm đo mức 25-hydroxyvitamin D. Nhiều bác sĩ chuyên khoa đề nghị khi mức này < 20 ng/mL mới là thiếu vitamin D . Yếu tố thiếu vitamin D gồm cao tuổi, sống trong nhà, sống ở vùng trên vĩ độ 35 trong mùa đông (thí dụ thành phố Atlanta), dùng kem chống nắng, hấp thụ kém và dùng thuốc chống động kinh, thuốc glucocorticoid. Cũng nên đo mức vitamin D ở người rỗng xương.
Nên chọn lọai vitamin D nào? Có nên uống Calcitriol không?
Vitamin D2 từ ergosterol ( sterol thực vật và men). Vitamin D2 sẽ khử 1 dấ nối đôi để thành Vitamin D3 hay Cholecalciferol. Vitamin D3 qua gan, gắn thêm 1 chức –OH ở vị trí 25 để thành calcifediol, và sau đó qua tiểu quản thận để gắn thêm chức -OH thứ ba ở vị trí carbon số 1, thành tricalcidiol (3 chức –OH).Người có chức năng gan và thận bình thường sẽ biến D3 thành dạng họat động calcitriol, trái lại người suy thận không thể biến calcifediol thành calcitriol. Do đó, calcitriol chỉ cần thiết cho người suy thận, người bình thường uống vitamin D2 hay D3 được rồi.
Liều lượng vitamin D
Ngừa gãy xương và té ngã ở người cao tuổi: chứng cứ mới nhất gợi ý người cao tuổi dùng vitamin D 482-770 IU/ngày giảm nguy cơ gãy không phải xương sống 20% và nguy cơ gãy xương đùi 18%. Nguy cơ gãy không phải xương sống giảm 29% ở người cao tuổi sống trong cộng đồng, và 15% ở bệnh nhân sống trong viện điều dưỡng. Điều trị 168 người cao tuổi với 800 IU vitamin D mỗi ngày từ 1 đến 7 năm sẽ ngừa được 1 trường hợp gãy xương đùi. điều trị 93 người cao tuổi với 800 IU vitamin D mỗi ngày sẽ tránh được 1 ca gãy không phải xương sống.
Vitamin D cũng tìm thấy trong bắp thịt và yếu cơ là triệu chứng thiếu vitamin D.
Dùng vitamin D để ngừa té ngã ở liều 800 IU/ngày giảm nguy cơ 20%. Cứ 15 người dùng thì sẽ tránh được 1 ca té ngã.
Cần nhớ 1000 IU/ngày tăng mức vitamin D khỏang 10 ng.mL trong 8 tháng.
Người lớn thiếu vitamin D, có thể dùng vitamin D2 hay D3 50 000 Iu/mỗi tuần. Liều cao 500 000 IU tiêm 1 lần mỗi năm tăng nguy cơ té ngã và gảy xương ở phụ nữ trên 70 tuổi.
Liều lượng cho trẻ em:
Trẻ em cần phải ăn uống đầy đủ vitamin D để tránh bệnh còi xương (Ricketts) và những biến chứng khác do thiếu vitamin D. Theo hướng dẫn mới về liều lượng vitamin D cho các em bé và trẻ em của hàn lâm viện nhi khoa Hoa-Kỳ, trẻ em trong những nhóm sau đây phải dùng hàng ngày 400 IU vitamin D:
1/ em bé đang bú sữa mẹ tòan phần hay một phần (bắt đầu thuốc bồi dưỡng vitamin D vài ngày sau khi sinh).
2/ Các em bé không bú sữa mẹ hay trẻ em lớn hơn uống ít hơn 1 lít sữa tăng cường thêm vitamin D mỗi ngày.
3/ Trẻ vị thành niên không uống đủ sữa tăng cường vitamin D.
4/ Trẻ em tăng nguy cơ thiếu vitamin D như hấp thụ kém chất béo hay đang uống thuốc chống động kinh lâu ngày. Những trẻ em này có thể cần phải có mức vitamin D trong huyết thanh cao hơn và phải kiểm tra mức vitamin D, hormon phó giáp trạng và tình trạng khóang chất xương đều đặn.
Độc hại của vitamin D:
Hiếm gặp độc hại của vitamin D. Triệu chứng cao vitamin D trong máu gồm buồn nôn, ói mửa, biếng ăn, lẫn lộn, táo bón, yếu ớt và giảm cân. Ngoài ra có thể sinh tăng cao phosphat huyết và giảm calcium huyết đưa đến thay đổi tình trạng tâm trí và loạn nhịp tim. Theo viện y khoa Hoa-Kỳ, mức dung nạp giới hạn trên của vitamin D cho người từ 1 tuổi trở lên là 2000 IU/ngày. Mức này bị thử thách, vì ngày nay mức dung nạp giới hạn trên có thể lên đến 10 000 IU/ngày. Tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời không gây độc tính, có thể do ánh sáng làm thoái hóa vitamin D3 ở da.
Cơ chế chuyển hóa vitamin D

Hình bên trái, tia tử ngọai chuyển 7-dehydrocholesterol trong cơ thể thành vitamin D3.
Hình bên phải là vitamin D2 uống hay tiêm vào cơ thể.
Vitamin D3 hình ở giữa không có chức –OH giữa 2 nhánh methyl vị trí carbon 25. Vitamin D3 phải qua gan để gắn thêm chức –OH thành calciferol.
Calciferol qua tiểu quản thận, để biến thành dạng họat động calcitriol hay 1,25-dihydroxycholecalciferol.
Dược Sĩ Lê-Văn-Nhân
TAGS: Sinh tố D, Mức vitamin D, Dị ứng, Hen suyễn, Béo mập, Bệnh tuyến giáp, Đau lan tỏa, Cơ co thắt yếu, Hội chứng tiền kinh (PMS), Tiểu đường, Xơ cứng rải rác, Suy giảm nhận thức, Nguy cơ tim mạch, Ung thư, Tử vong, Lu-pút (lupus), Parkinson, Ricketts, 7-dehydrocholesterol, Vitamin D3, Calciferol, 1,25-dihydroxycholecalciferol, Le-Van-Nhan