Xin Chào Vị Khách Thứ
SEARCH
    Phiếm Luận
3/18/2008 11:30:10 AM  


Giải Pháp
Bảo Đại


Ngày xưa xa lắm ở bên Tầu..

Đời Vua Đường, ông Bạch Cư Dị đỗ tiến sĩ, làm quan to, có tài làm thơ. Ông đã sống ở đời này cả ngàn năm với những bài thơ của ông; hai bài nổi tiếng nhất là bài Trường Hận Ca và bài Tì Bà Hành. Đề tài Trường Hận Ca là cuộc tình “dzài lâu hơn Trời Đất” của Dương Quí Phi và Đường Minh Hoàng:

Thiên trường, địa cửu hữu thời tận
Thử hận mang mang vô tuyệt kỳ
Trời rộng, đất dài có ngày hết
Hận này không có bao giờ tan...


Có thời Bạch Cư Dị bị đầy đi làm quan ở nơi xa sôi, hoang vắng, nơi thường được gọi, văn huê là “chân trời, góc biển, hải giác thiên nhai”, nôm na là chỗ “khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối, người ăn sắn.” Ngày xưa ấy ở bên Tầu, việc những người làm quan bị triều đình đầy đi những nơi hoang vắng gọi là bị biếm trích, nơi các ông bị đầy gọi là trích địa. Nơi đất trích Bạch Thi sĩ phải sống có cái thành gọi là Thành Tầm Dương, Thành Tầm Dương có con sông Tầm Dương và sông Tầm Dương có bến đò tên là Bến Tầm Dương.

Một buổi tối mùa thu, Bạch Thi sĩ đến bến Tầm Dương đưa tiễn ông bạn.

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu..


Theo thông lệ tiễn biệt của quân tử Tầu cuộc tiễn đưa có tiệc rượu, tiễn người đi bằng thuyền thì tiệc được bày ở dưới thuyền, cũng theo thông lệ quân tử Tầu khi uống rượu thường có kỹ nữ đàn hát, chuốc rượu, tức mời rượu. Tối ấy trong con thuyền trên bến Tầm Dương, tiệc rượu suông, tức có rượu nhưng không có kỹ nữ, chủ khách đang buồn thì nghe tiếng đàn tì-bà thánh thót từ một chiếc thuyền gần bên vẳng tới. Cả năm sống ở nơi cùng tịch không được nghe tiếng đàn tì-bà, Bạch Thi sĩ cả mừng bèn cho mời người kỹ nữ gẩy đàn sang thuyền mình. Người kỹ nữ trạc Bốn Bó tuổi đời, có nhan sắc, đàn hay. Thi sĩ nghe nàng đàn, cám ơn nàng rồi hỏi về thân thế nàng; nàng kể thời trẻ nàng là kỹ nữ nổi tiếng ở kinh đô, hết xuân làm vợ một người lái buôn, chồng nàng đi xa buôn hàng, nàng ở nhà một mình, buồn, nhớ thời xuân xưa. Nàng kể rồi nàng lại khẩy đờn, tiếng đàn buồn làm những người trong tiệc rơi nước mắt. Quan Tư Mã Giang Châu Bạch Cư Dị là người khóc nhiều nhất, nước mắt ướt cả tay áo xanh.

Ngã văn Tì-bà dĩ thán túc,
Hựu văn thử ngữ trùng tức tức.
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,
Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương Thành


Thơ dịch:

Nghe đàn ta đã trạnh buồn,
Lại sầu vì nỗi nỉ non mấy lời.
Cùng một lứa bên trời lận đận.
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai...


Tỳ Bà Hành, Thơ Việt - nghe nói của ông Đoàn Tư Thuật - với tôi hay hơn nguyên bản. Thơ Tầu: “Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương Thành“: Bị trích nằm bệnh ở Thành Tầm Dương. Thơ Việt: “Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai..” buồn thương hơn, gợi cảm hơn.

Kể chuyện “Tầm Dương đất trích” để nói lên chuyện tôi sống ở góc trời Kỳ Hoa này cũng buồn như Thi sĩ Bạch Cư Dị sống ở thành Tầm Dương. Họ Bạch cả năm không được nghe đàn tì-bà chơi nhạc kinh đô Lạc Dương, tôi liêu lạc ở xứ người mười mùa thu vàng không được nghe tiếng nhạc Sài Gòn Xưa. Nhớ ơi là nhớ. Tuy sống gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, tiếng Mỹ là Oắt-dzing-tôn Đi Xi, nhưng Rừng Phong ở góc thành đô xa vắng, tôi lại quê mùa, miệng lưỡi không khéo nên khó kết giao, nên không có bạn, không có cả sách báo văn chương. Lâu lâu vớ được một, hai văn phẩm từ Cali Đất Văn Học trôi giạt đến tay thì quí hơn vàng, hơn ngọc.

Bởi dzậy, mới đây tôi may mắn có được tờ báo Xuân Mậu Tý Thời Luận đến từ Cali Đất Vàng Y, bèn chong đèn nằm đọc suốt đêm thâu. Chao ơi.. Toàn những bài hay. Không chỉ hay suông mà hay quá là hay. Nhưng “Văn bất khả hưởng tận”. Đọc được bài văn hay tôi không dzám hưởng một mình, xin kể lại với quí vị đồng hương, đồng tộc, đồng quốc, đồng lưu vong, đồng biệt xứ ở chín phương trời, mười phương đất hải ngoại thương ca.

Đây là bài Chuyện chưa được kể về Cựu Hoàng BẢO ĐẠI, người viết Trần Đức Thanh - Phong. Bài đăng trên Báo THỜI LUẬN XUÂN MẬU TÝ

TRÍCH: Bảo Đại Vị Hoàng Đế Cuối Cùng Trong Ván Bài Cuối Cùng.

Câu chuyện về một “Giải pháp Bảo Đại” năm 1973 là một trang sử rất ít được biết đến. Những người tham dự trực tiếp vào kế họach này khi việc bất thành đã chọn im lặng vì vấn đề tế nhị quốc tế có thể gây khó khăn ngoại giao cho một số chính trị gia cao cấp, đặc biệt ở Nhật Bản dính líu đến 2 vị đương kim Thủ Tướng Nhật (1973) và một vị Cựu Thủ Tướng Nhật Bản.

Trang sử này được viết theo dạng kể chuyện về một nhân vật lúc sinh tiền thường bị chê bai nhưng chết rồi thì có khi được khen là một quân tử, một gentleman, không đố kỵ, không trách cứ ai kể cả những người đã gây tai hại cho bản thân mình ( .. .. .. ) Đây là việc đóng góp thêm một giai thoại về một con người mang tiếng là nhu nhược trước việc lớn và mê muội trước người đẹp.

Đây là câu chuyện về ông Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng, “The Last Emperor” trong một nỗ lực cứu quốc cuối cùng.

Nhiều người chê bai ông nhưng không ai có thể buộc tội ông đã hại dân, hại nước hay đã hành động gây chết tróc cho dân chúng.

Ông Bảo Đại được sinh ra để đóng một vai trò bất đắc dĩ trong một đất nước bị ngoại bang đô hộ. Cái khuyết điểm dễ thấy nhất của ông là nhu nhược và mê gái.

Ông sinh ngày 23-10-1913, được đặt tên là Vĩnh Thụy, người con duy nhất của Vua Khải Định. Du học Pháp Tháng 5 năm 1922, lúc mới 9 tuổi. Tháng 11 năm 1925 Vua Cha chết, ông về nước lên ngôi, lấy đế hiệu là Bảo Đại, trở lại Pháp du học tiếp, đến Tháng 9 năm 1932 thì về nước trị vì.

Tháng 3 năm 1934 Vua Bảo Đại kết hôn với cô Jeannette Nguyễn Hữu Thị Lan, có tài liệu ghi là Marie-Thérèse Nguyễn Hữu Hào, có quốc tịch Pháp, theo Ki-tô-giáo, ái nữ một đại điền chủ Nam Kỳ. Bà được phong là Nam Phương Hoàng Hậu, bà sinh Ngày 14 Tháng 12 năm 1914, mất Ngày 15 Tháng 9 năm 1963 trên đất Pháp.

Vua Bảo Đại có 4 vợ, một bà người Bắc được gọi là Thứ Phi Mộng Điệp, bà thứ ba - nghe nói - là bà Lý Lệ Hà; bà thứ tư và là bà cuối cùng của Vua, là bà đầm Pháp, tên là Monique Baudot. Bà này năm nay, 2008, còn sống ở Pháp.

Tác giả bài viết về Cựu Hoàng Bảo Đại là ông Trần Đức Thanh-Phong. Và ông Trần Đức Thanh Phong - thay vì xưng tôi - viết về nhân vật Trần Đức Thanh-Phong trong Bi Hùng Kịch Cựu Hoàng Bảo Đại Cứu Quốc như sau:

Trích: Anh TP (tác giả bài này) được trao trách nhiệm dò hỏi vận động sự hợp tác của Nhật. Anh trở lại Nhật để thực hiện kế hoạch. Cũng cần ghi nhận là anh TP qua Nhật năm 1943 để theo học về quân sự. Khi Nhật bại trận, anh chuyển sang ngành kỹ thuật thuần túy, vừa đi học vừa đi làm tại Đại Bản Doanh Quân Chính Đồng Minh Chiếm Đóng Nhật Bản.

Tác giả Trần Đức Thanh-Phong đặt câu hỏi:

Trích: Nhưng “ai” và “từ đâu” có thể đứng ra móc nối, dàn xếp, thuyết phục 3 phe khác biệt này: Cựu Hoàng Bảo Đại, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và phe quốc gia? Ai hay nước nào có thể đóng vai trò trung gian? ( .. .. .. )

Sự kiện khác được coi như xác nhận là công tác đã bị lộ khi có lệnh bắt anh TP. Số là hôm 27.1.1973, ngày Hiệp Định Paris được ký kết thì ở Sài Gòn anh TP nhận được tin từ Tokyo là ông Bảo Đại cho biết đã sẵn sàng lên đường qua Nhật. Còn 6 ngày nữa là Tết. Hôm 29.1.1973, có tin từ anh em bên Trung Ương Tình Báo cho biết là có lệnh bắt anh TP. Lệnh này được anh em giữ lại để anh TP tìm cách xuất ngoại.

Vì là cận Tết, hơn nữa vì có cái đám cưới con gái ông Thiệu mà cả ngàn người có máu mặt đã nhận được hồng thiếp, không khí tấp nập gởi quà cưới và quà Tết tại Phủ Tổng Thống đã làm lu mờ mọi sự, kể cả những trận đánh ác liệt ở chiến trường vẫn tiếp tục không đếm xỉa đến những chữ ký còn ướt mực ở Paris, cũng nhờ thế mà lệnh bắt anh TP bị chìm đắm bởi cuộc vui thú của gia đình TT. Thiệu. Thật là may. Đúng 30 Tết anh TP đã rời Việt Nam. Tôi xin phép không diễn tả sự đào thoát này vì là một sự kiện tế nhị. (…)

Tôi quên mất ngày nào, khoảng vài ba hôm sau khi ông Bảo Đại tới Nhật thì Ngoại Trưởng Kissinger công du Trung Cộng trên đường về đã ghé nghỉ chân một ngày ở Tokyo. Từ đó Tòa Đại Sứ Việt Nam CH đã báo cáo là có buổi họp mật Bảo Đại-Kissinger. Tin thất thiệt này đã khơi mào cho một chiến dịch chống Bảo Đại ở Sài Gòn với sự tham dự rộng rãi của “lữ đoàn gia nô quốc hội.” (…)

Nhưng chuyện không ai biết là “Giải Pháp Bảo Đại” đã đột ngột chấm dứt ngay khi ông Bảo Đại còn có mặt ở Tokyo. Một yếu tố bất ngờ đã phá tan kế hoạch mất hai năm chuẩn bị, một kế họach nếu thực hiện được thì Miền Nam đã đi vào một giai đoạn sáng sủa lấy nghị trường làm nơi tranh đua xây dựng đất nước. Không ai phải bỏ nước đi tìm tự do. Những người yêu nước chót theo Mặt Trận DTGPMN đã tránh được sự vắt chanh bỏ vỏ và trừng trị của đảng cộng sản Việt Nam.(…)

Xin trở lại với câu chuyện để kết thúc bài này với giai thoại “Tại sao Giải Pháp Bảo Đại thất bại?”

Ông Bảo Đại hằng đêm nói chuyện qua điện thoại nhiều giờ với ai đó bên Pháp và bên Hong Kong. Ngươi đó là bà Monique, bà vợ Pháp của ông.

Cái đêm định mệnh đó, vào lúc 2 giờ sáng, tại lobby khách sạn New Otani, một phụ nữ người Âu đã sách va-li tới nơi ghi danh (registration) với một giọng thiếu kiên nhẫn đòi nói chuyện với “Prince Vĩnh Thụy.” Cố nhiên nhân viên khách sạn trả lời không biết vì cả khu dành cho ông Bảo Đại được giữ kín, có người canh gác cẩn thận. Người đàn bà Âu này đã tự mình vào thang máy lên thẳng tầng lầu và tìm tới phòng của ông Bảo Đại đập cửa rầm rầm. Lính canh Nhật lúng túng không biết phải phản ứng như thế nào vì đối tượng là một người đàn bà da trắng thì ngay lúc đó cửa phòng mở và chính ông Bảo Đại đã kéo người đàn bà này vào phòng.

Tiếp theo là cảnh ong vỡ tổ, nhân viên an ninh chạy ngược xuôi, báo cáo bằng máy cầm tay đã nhanh chóng đánh thức nhiều người để đối phó với tình trạng khủng hoảng. Khi tôi tới hotel vào lúc 7 giờ sáng mới biết là bà Monique không biết vì lý do gì đã tự tiện qua Tokyo và tới thẳng phòng ông Bảo Đại.

Nhưng quan trọng hơn là phía người Nhật với bản chất bài ngoại nhất là với người da trắng. Họ rất nhậy cảm và nhẩy vào kết luận là tình báo Pháp đã gài người vào kế hoạch này. Họ quyết định cắt đứt ngay mọi việc, rút hết sự canh gác an ninh. Ông M đưa cho tôi một sấp tiền Yen, bảo tôi đưa cho anh bí thư của ông Bảo Đại để lo cho ông ấy về Pháp. Và thế là “Vị Hoàng Đế Việt Nam Cuối Cùng” âm thầm rời nước Nhật.

Những người bạn Nhật không hề trách cứ tôi. Họ chỉ nói về ông Bảo Đại rằng: “Ông ấy ở Pháp lâu quá rồi, không còn tư cách một vị lãnh đạo Á Châu.” Câu chuyện này tôi thường nghĩ đúng là “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”, việc không thành chỉ trách Ông Trời, con người đều đã hết lòng. Cũng không nên trách ông Bảo Đại, ông chỉ có thế.

Nói cho đúng thì một phụ nữ Pháp đã vô tình thay đổi một trang sử Việt Nam dù trang sử đó chưa biết sẽ được viết như thế nào.

Trần Đức Thanh-Phong
Little Saigon, Mùa Lễ Giáng Sinh 2006.

Quí vị vừa đọc một số đoạn trích trong Hồi Ký của ông Trần Đức Thanh-Phong. Tôi không thể đăng lại hết Hồi Ký hay trích nhiều hơn nên khi đọc có thể có nhiều vị thấy sự việc tối om, khó hiểu. Xin tóm tắt: ông TĐ Thanh-Phong là người được trao trách nhiệm tổ chức đưa Cựu Hoàng Bảo Đại về nước cứu nước năm 1973. Ông không cho độc giả biết thế lực nào, những chính phủ nào, những quốc gia nào trên thế giới trao cho ông nhiệm vụ ấy. Qua lời ông kể, ta thấy những chính khách Nhật là lực lượng chính trong việc mưu toan đưa Cựu Hoàng Việt Nam về nước cứu dân Việt, cứu nước Việt. Cựu Hoàng được người Nhật đón đến Tokyo, được long trọng mời ngụ trong Khách Sạn Quốc Tế 20 Sao ngoại hạng của Tokyo. Chưa thấy Cựu Hoàng làm gì cả ngoài việc đêm đêm Ngài Ngự nói chuyện nhiều giờ qua điện thoại với ai đó ở Hong Kong và bên Pháp. Tuy nhiên sự việc dziễn ra êm ru như hòn bi thép lăn trong vòng mâm roulette cho đến một đêm bà Đầm Vợ Ngài Ngự, từ Pháp, xách va-li đến ô-ten tìm Ngài Ngự. Bà Đầm Monique Baudot xuất hiện, các chính khách Nhật dzẫy nẩy lên. Đến lúc này họ mới biết Cựu Hoàng có vợ Đầm, họ cho bà Vợ Đầm của Cựu Hoàng là bằng chứng Cơ quan 2ème Bureau - Phòng Nhì Pháp - cài người bên cạnh Cựu Hoàng. Họ buông rơi Cựu Hoàng cái rụp.

Tuy buông, người Nhật, vẫn còn tử tế, họ đưa tiền Yen cho ông TĐ Thanh-Phong để ông mua vé máy bay cho Cựu Hoàng từ Nhật bay về Pháp. Và thế là dân Việt Nam mất cơ hội bằng vàng y được Cựu Hoàng về nước cứu cho thoát khỏi nạn cộng sản.

Trước năm 1975 quân đội nước tôi có ông Tướng Trần Đức Thanh-Phong. Tôi không biết Tướng Quân TĐ Thanh-Phong 40 năm xưa có phải là ông TĐ Thanh-Phong tác giả hồi ký này hay không. Chắc không phải. Tôi nghe nói ông TĐ Thanh-Phong tác giả Hồi ký này là Giáo sư.

Nhân bài viết của ông TĐ Thanh-Phong về Cựu Hoàng Bảo Đại về nước cứu dân, tôi nhớ lại chuyện một số ông tôi quen biết ở Sài Gòn, năm 1983, bị bọn Công An VC Thành Hồ cho đi tù năm, bẩy niên vì tội “huê mỹ là phấn khởi, hồ hởi, nôm na là hí hửng loan tin Cựu Hoàng về nước và hân hoan chuẩn bị cung nghênh Cựu Hoàng.”

Những năm 1964, 1965, nhiều nhật báo ra đời loạn cào cào ở Sài Gòn. Trong số những tờ báo ra đời sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị đảo chính có tờ Tranh Đấu của ông Ngô Đức Mão. Ông Chu Tử, khi chưa có nhật báo Sống, có thời mướn măng-xét báo Tranh Đấu để ra báo nhưng chỉ vài tháng là tờ Tranh Đấu - tên thứ hai là Trâu Đánh - bị Bộ Thông Tin thu hồi giấy phép. Tôi được quen biết sơ sơ ông Ngô Đức Mão từ những ngày báo Tranh Đấu-Trâu Đánh ấy.

Gần hai mươi năm qua - 1965/1983 - sau cuộc trời long, đất ngả nghiêng, tôi lại nghe nói đến ông Ngô Đức Mão. Ông là nhân vật Bảo Hoàng kịch liệt nhất, trung kiên nhất trong số những ông Việt Nam Bảo Hoàng, tức các ông mê tín Cựu Hoàng Bảo Đại, các ông muốn thấy Ngài Ngự trở lại chấp chính, các ông tin chắc Ngài Ngự mà trở về nước - chỉ cần Ngài về nước làm Quốc Trưởng thôi - là các chính phủ thế giới sẽ đồng tình ủng hộ Ngài. Họ - các vị lãnh đạo quốc tế - đã quá chán ngấy bọn Việt Cộng ác ôn. Bọn Việt Công còn cầm quyền là họ còn không giúp, còn cấm vận Việt Nam. Họ chỉ tín nhiệm Cựu Hoàng. Có thể nhân vật Bảo Hoàng Ngô Đức Mão là người thứ nhất ở Sài Gòn loan tin Cựu Hoàng hồi loan, vì ông, với tư cách là nhân vật Bảo Hoàng Trung Tín, vẫn có liên lạc mật thiết với Hội Đồng Hoàng Tộc ở Huế.

Lại nghe nói trước Ngày 30 Tháng Tư Oan Nghiệt vợ con ông Ngô Đức Mão chạy thoát, ông ở lại Sài Gòn một mình, cũng nghe nói thôi, tôi không được đến nhà ông lần nào, năm 1983 ông có bà vợ trẻ phơi phới xuân tình, ông sống phây phây nhờ đô-la, thuốc Tây, vải lụa của các con ông ở nước ngoài gửi về. Ông tổ chức thường xuyên những buổi ăn nhậu tại nhà ông, khách của ông là những ông bạn cùng có lòng Bảo Hoàng tôn quân như ông.

Thế rồi tôi nghe tin ông Bảo Hoàng Ngô Đức Mão và nhóm Bảo Hoàng bị bắt. Tin ấy không làm tôi chú ý bao nhiêu vì lúc ấy tình trạng tôi cũng rách hơn cái lá đa ca dao, đen hơn mõm chó mực, nói huỵch toẹt là tôi đang sợ tôi cũng sắp bị bắt.

Rồi một sáng Tháng Tư năm 1984 tôi xách túi đi trở vào Khu C 1 Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu, Trung Tâm Thẩm Vấn của Sở Công An Thành phố Hồ chí Minh. Bốn năm trước, tôi đã sống trong Nhà Tù này 2 niên, tôi ra khỏi Nhà Tù này cuối năm 1979. Qua ô cửa gió Xà-lim Số 10 nhìn sang tôi thấy ông Ngô Đức Mão đứng sau song sắt cửa Phòng Giam Tập Thể Số 3 ở trước mặt. Ông nghe anh em tù nói có tôi mới dzô xà-lim, ông ra cửa chờ tôi ló mặt ở cửa gió xà-lim nhìn sang, ra hiệu chào tôi và nói ông sẽ tìm cách gửi sang cho tôi chút đồ ăn mặn cho tôi đỡ khổ.

Rồi tôi từ giã phòng biệt giam, xách túi sang Phòng Giam Tập Thể số 6 cùng khu. Tại đây tôi nằm cạnh anh Tôn Thất Lộc. Chúng tôi làm quen nhau. Anh hơn tôi 2 tuổi. Năm ấy anh 60, tôi 58. Anh là sĩ quan, cấp Đại Úy hay Thiếu Tá tôi không nhớ đúng. Anh từng đi tù cải tạo sĩ quan trở về. Anh kể anh vào lính từ những năm 1947, 1948. Anh không lên cấp được như các sĩ quan khác, anh bị đì vì anh là sĩ quan dòng Tôn Thất không chịu ký giấy tự nguyện truất phế Cựu Hoàng Bảo Đại trong cuộc Truất Phế Bảo Đại năm 1955.

Anh biết rất nhiều chuyện về đời tư các Tướng người miền Trung, như Tướng Tôn Thất Đính, Tướng Nguyễn Văn Truân. Anh kể Tướng Nguyễn Văn Truân, khi còn hàn vi, tức nghèo, kiêm đói và rách, được bà vợ quê tần tảo buôn bán nuôi cho ăn học, khi là Tướng, Tướng Truân bỏ bà vợ quê, lấy bà vợ mới trẻ đẹp. Anh kể về Tướng Tôn Thất Đính:

- Năm 1948 tôi làm việc ở Tiểu Khu Đà Lạt. Một hôm đi làm bằng xe đạp, tôi gặp thằng Đính trong bọn tù được cho ra quét đường. Tôi dừng lại hỏi chuyện nó. Được biết nó là a-dzăng pô-lít Đà Lạt, can tội dính líu với bọn Việt Minh nên bị Tây nó bắt. Tôi tìm cách cứu cho nó ra khỏi tù. Rồi nó đi lính Việt Binh Đoàn, bà chị nó nói với tôi: “Người trong họ tôi cứ đi lính là làm Tướng, rồi thằng Đính nó làm Tướng cho ông coi.” Khi nó làm Tư Lệnh Quân Đoàn 2 ở Pleiku, tôi cũng làm việc ở Tiểu Khu Pleiku. Tôi ra vô tư dinh nó gần như mỗi ngày. Khi nó chơi bậy, tai tiếng, tôi chửi nó. Nó ra lệnh cho lính canh cấm cửa không cho tôi vào dinh. Tôi đứng ngoài cổng tôi kêu tên nó tôi chửi.

Anh kể anh bị bắt cùng với ông Ngô Đức Mão. Anh là Tổng Thư Ký Hội Đồng Hoàng Tộc. Có lần Bà Từ Cung bảo anh mời nhân vật Bảo Hoàng Ngô Đức Mão ra Huế gặp bà để bà cám ơn ông có lòng nhớ đến Nhà Vua. Do đó anh và ông Mão quen biết nhau khá thân. Anh đoan quyết với tôi việc Cựu Hoàng trở về cứu nước là chuyện thật, bọn Bắc Cộng bắt buộc phải mời Cựu Hoàng về nước chấp chính để được sự ủng hộ và viện trợ kinh tế của các nước dân chủ-tư bản. Anh quả quyết bọn Cộng sản không thể làm gì khác ngoài việc mời Cựu Hoàng về nước. Anh nói: “Bọn Cộng sản Việt Nam nay rơi vào tình trạng đứng lại là chết, tiến lên cũng chết, lùi lại cũng chết. Anh tin tôi đi. Tôi nói dối anh làm gì. Nhất định Cựu Hoàng sẽ về, anh em mình sẽ không còn phải khổ nữa. Không lâu đâu, chỉ trong năm nay thôi.”

Nhân vật Bảo Hoàng thứ ba bị tó tôi quen biết là ông Nguyễn Hữu Lương, dịch giả tác phẩm Thanh Cung Mười Ba Triều của Hứa Tiếu Thiên. Anh Lộc và tôi nằm Phòng 6, ông Lương nằm Phòng 7 cùng Khu C 1.

Còn bốn hay năm ông Bảo Hoàng nữa trong nhóm ông Ngô Đức Mão bị tó nằm phơi rốn trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu. Tôi không quen biết những ông này. Dường như trong năm 1983 hay 1984, Cựu Hoàng Bảo Đại có sang Hoa Kỳ, được ông Thị Trưởng San Francisco đón tiếp, tặng Chià Khóa Vàng Thành phố. Việc này càng làm cho những ông Bảo Hoàng ở Việt Nam thêm tin tưởng rằng chính phủ Hoa Kỳ phải mời Ngài Ngự sang Mỹ thương thảo để Ngài chịu trở về Việt Nam.

12 tháng nằm phơi rốn của tôi trong Nhà Tù Số 4 Phan đăng Lưu trôi qua. Năm 1985 anh Tôn Thất Lộc sang Nhà Tù Chí Hòa trước tôi. Chúng tôi xa nhau. Năm 1990 mãn án tù tôi trở về mái nhà xưa, anh Lộc đã ở tù về trước tôi. Chúng tôi gặp lại nhau. Anh nói: “Chúng nó lừa ông già..” Tôi hiểu anh muốn nói Cựu Hoàng bị lừa. Tôi không hỏi mà anh cũng không nói gì thêm về chuyện Cựu Hoàng trở về cứu nước. Anh và tôi cùng buồn. Những người trong nhóm Bảo Hoàng Ngô Đức Mão bị tù người 3 năm, người 5 năm. Năm 1990 tất cả các ông đều đã từ ngục tù CS trở về những mái nhà xưa dzột nát và vòng tay không ấm cũng không lạnh, chỉ èo uột, của các bà vợ vừa già vừa gầy, chỉ có Cựu Hoàng Bảo Đại là không về.

Người sĩ quan Tôn Thất Lộc không đi HO sang Kỳ Hoa. Ông không đi, như Trung tá Nguyễn Quang Tuyến, tức Nhà Văn Văn Quang, không phải vì có tình với bọn CS mà là vì những lý do tình cảm riêng. Không biết có tất cả bao nhiêu ông sĩ quan quân đội tôi không đi HO? Có đến 10 ông không? Trong số những ông sĩ quan ở lại quê hương ấy tôi quen biết hai ông: Đại Úy Tôn Thất Lộc, Trung Tá Nguyễn Quang Tuyến.

Mời quí vị xem những bức hình xưa đăng cùng bài viết này. Ảnh 1: Vua Bảo Đại, cầm can, đi với Hoàng Hậu Nam Phương và Quan Khâm Sứ Pháp. Hoàng Hậu ta bận y phục đầm, cắt tóc ngắn, đội mũ đầm - không biết tóc Bà có friser/uốn quăn hay không - nên khi Bà bận y phục Việt Nam - áo dài - bà không thể vấn tóc, đội khăn được, nhưng không lẽ Hoàng Hậu, xuất hiện trong những quốc lễ, lại để đầu trần, Bà chế ra Khăn Vành Dây - khăn là dây lụa, dây gấm, nhiễu, quấn lại nhiều vòng - Như vậy Hoàng Hậu Nam Phương là người sáng chế ra Khăn Vành Dây. Từ đấy các cô dâu Việt lên xe bông về nhà chồng đều đội Khăn Vành Dây, người ta cho các cô nữ sinh đóng vai Bà Trưng Trắc, bà Trưng Nhị trong những cuộc Lễ Tưởng Niệm Hai Bà ở Hà Nội, rồi Sài Gòn, cưỡi voi Sở Thú, bận áo vàng, đội Khăn Vành Dây của Hoàng Hậu Nam Phương.

Lời ghi dưới Hình 2: “Vua Bảo Đại xuất hiện trong một nghi lễ chính thức với quan chức Pháp năm 1930″ là không đúng. Vua Bảo Đại chỉ về nước chính thức làm Vua năm 1934. Tôi đăng ảnh xưa này để quí vị thấy cái Nón Cối - Quan Tây gọi là - casque colonial - cát cô-lô-nhần, được các quí quan Đại Pháp đội vào nước ta từ những năm 1880, 1890. Ông Tây, bà Đầm từ giã 3 nước Đông Pháp, Nón Cối của quí quan Đại Pháp ở lại với người An-nam Bắc Kỳ mãi cho đến nay. Người Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa không dùng Nón Cối. Chủ Tịt Hồ chí Minh đáng được chính phủ Pháp ghi công là “người có công bảo tồn Nón Cối, di sản Văn Minh Phú-lăng-sa ở Đông Dương.”

Ông Trần Đức Thanh-Phong đã viết chắc chuyện phải đúng, người đọc chỉ có vài théc méc là: thế lực nào giao cho ông việc mưu toan đưa Cựu Hoàng Bảo Đại về nước, không lẽ các chính khách Nhật không biết Cựu Hoàng có bà vợ Đầm, để đến khi Bà Đầm xách đồ đến Tokyo với Cựu Hoàng các ông mới biết, và việc biết muộn màng ấy làm các ông nhẩy nhổm lên; cũng không có lẽ sau khi đón Cựu Hoàng đến Tokyo, chỉ còn chờ ngày đưa Cựu Hoàng về Sài Gòn, các ông chính khách Nhật mới thấy: “Ông ấy ở Pháp lâu quá rồi, không còn tư cách một vị lãnh đạo Á Châu.”

Tác giả Trần Đức Thanh-Phong hạ bút: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.” Đúng vậy. Than ôi.. Trời chẳng chiều người. Ông Thanh-Phong mất bao nhiêu công lao, ngày tháng, chịu bao nguy hiểm: tí síu nữa thì ông bị Mật Vụ bắt do lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, may nhờ đám cưới cô con của Tổng Thống, và nhờ những người anh em của ông trong Cơ Quan Tình Báo Trung Ương - tức Nha CIV: Central Intelligence Vietnam, anh em cùng bố khác mẹ với Cơ quan CIA - bao che nên ông thoát sang được nứơc Nhật. Khi ông đến Tokyo thì cuộc mưu sự đã vỡ tan rồi, tan đến không có tan nào có thể tan hơn, vỡ đến không còn cứu vãn, chắp vá, hàn gắn gì được nữa. Tiếc lắm thay. Nhân dân Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, trong số có tôi, chỉ vì cái Bề Hê của Bà Đầm Monique Baudot mà mất cơ hội trăm năm một thưở được Cựu Hoàng ra tay cứu vớt khỏi cảnh bị bọn Công Sản Ác Ôn nó cho quằn quại trong dầu sôi, lửa bỏng, nó dzìm dưới hầm tai họa, nó nướng cháy queo trên ngọn lửa hung tàn.

Bài học Luân Lý Giáo Khoa Thư Lớp Đồng Ấu tôi rút được từ Hồi Ký Giải Pháp Bảo Đại của người viết Trần Đức Thanh-Phong là:

- Đức Bề Hê mạnh lắm thay, ta nên kính sợ mà lánh xa.

Tôi buồn năm phút. Buồn năm phút xong tôi lại càng buồn.

Kêu “Than ôi..” mãi cũng thấy mình dzô dzuyên nhưng sự đời như cái lá đa, không kêu Than ôi không được. Biết dzô dzang mà vẫn cứ phải kêu:

Than ôi..
Mưu sự tại Thanh-Phong,
Phá sự tại Mô-ních.
Thanh-Phong định như thử
Mô-ních nhi vị nhiên.

Mưu sự tại Thanh-Phong,
Làm hỏng việc tại Mô-ních.
Thanh Phong định như thế,
Mô-ních không chịu cho.


Chuyện xưa, nhắc lại cho lòng thêm tiếc nuối. Định mệnh an bài. Số phận mình đen hơn mõm chó thì Hoàng Đế, Hoàng Thượng, Đức Vua, Đệ Nhất Công Dzân, Cố Vấn Tối Cao, Cựu Hoàng, Quốc Trưởng, Ngài Ngự, Phế Đế, L’Empereur, Sa Majesté, Chef d’État có thương mình đến mấy đời mình cũng nát như cái mền Sakymen.

Thôi thì đành chấp nhận số phận với tiếng thở dzài ai oán và đành viết lời cuối cho vơi đi niềm uất hận buồn thương cho số kiếp:

Hoàng Đế Bảo Đại cả đời chẳng làm được công việc gì đáng kể, không những thế Ngài Ngự còn làm việc chi cũng thất bại não nùng. Tại sao thế? Chỉ tại vì cái tên Bảo Đại của Ngài. Cái tên tiền định: Bảo Đại: Bại Đảo. Đã Bại còn Đảo, vương nghiệp Nhà Nguyễn đến Ngài là tiêu tán thoòng. Đúng thôi!

Đến đây tạm chấm dzứt Chương Trình Văn Nghệ Tạp Lục của Ban Tùm Lum.

Công Tử Hà Đông