Chống Cộng? Chuyện
Nghe Qua... Rồi Bỏ
Nên tôi không mấy ngạc nhiên khi đọc các diễn văn, tuyên ngôn, tuyên cáo cùng các bài báo ở các loại báo biếu lá cải, các nhân vật cộng đồng tố cáo, mạ lỵ, chụp mũ tưng bừng lẫn nhau, người oan, kẻ ưng, cá mè một lứa. Trung Tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ. Anh có nhận xét gì không?
Đấy là lời bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nói với ông bạn của bà là anh Việt Cộng Trần Văn Thủy, đăng trong tập phỏng vấn “Nếu đi hết biển“. Đêm đông, Rừng Phong, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích, lạnh dưới Không độ, phòng ấm,
đèn vàng, yên lặng, an ninh năm chăm phần chăm, tiếng “Lá cải” bỗng gợi cho tôi thương nhớ ngày xưa. Tôi buông tập “Nếu đi hết biển” xuống và tôi thả hồn tôi về dĩ vãng…
Thả hồn về dĩ vãng..! Nôm na là nhớ lại ngày xưa.. Một buổi sáng năm 1960 xanh mướt trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới, số 32 đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa một thời oanh liệt, chú thiếu niên, anh cháu họ xa của ông Bút Trà, từ Quảng Nghĩa tránh loạn vào Sài Gòn, giữ chân chạy việc trong tòa soạn, nói với tôi:
- Báo mình là báo Sàigònmới, bà chủ mình có tờ báo nào là tờ Lá Cải đâu. Sao các báo họ cứ viết là “tờ Lá Cải của bà Bút Trà?”
Cái tội lớn nhất, và là tội duy nhất, mà nhật báo Sàigònmới, và bà Bút Trà, đã phạm với các ông chủ báo khác và quí anh ký giả những báo khác cùng thời là tội báo Sàigònmới bán quá chạy. Số người mua báo có hạn, người Việt chỉ có thể mỗi ngày mua một tờ nhật báo, nói rõ hơn người Việt những năm 1960 ít có ai một ngày bỏ tiền ra mua những hai tờ nhật báo. Nếu tờ báo này có nhiều người mua là những tờ báo kia có ít người mua. Thực ra thì cũng chẳng có chuyện thù ghét gì nặng nề, các ông chủ báo khác khi gặp bà chủ báo Sàigònmới vẫn hòa nhã, vui vẻ chị chị, tôi tôi, nhưng trên báo thì vẫn thỉnh thoảng móc lò nhau, chọc quê nhau cho vui. Báo Sàigònmới bị nhiều báo khác gọi là tờ “lá cải”. Tờ “Lá Cải” của bà Bút Trà là tờ Sàigònmới của bà Bút Trà.
Tiếng “Lá Cải” dùng để gọi tờ nhật báo tồi, báo dở, báo bệ rạc, xuất từ tiếng “feuille de choue” của giới ký giả nhật báo Pháp. Cách hôm nay hơn một trăm năm, khi ông Alexandre Dumas Père đang ngày ngày cho chàng hiệp sĩ D’Artagnan đánh kiếm chí chạt và yêu thương chí chát nàng Constance Bonacieux trong tiểu thuyết feuilleton Les Trois Mousquetaires, hay khi ông Alexandre Dumas Fils đang cho chàng công tử Armand yêu thương mùi mẫn mê ly hắt hủi nàng hoa khôi hoa nguyệt Marguerite trong tiểu thuyết diễm tình La Dame aux Camélias, giới ký giả Pháp gọi những tờ báo tồi là “feuille de choue“. Người Pháp mang nghề in, nghề làm báo vào nước ta. Những năm 1950, 1960 giới làm báo Sài Gòn dùng rất nhiều danh từ tiếng Pháp, như manchette là tiếng để gọi tờ báo, người không được phép ra báo muốn làm báo thì “mướn măng-xết”, tin vedette là tin quan trọng nhất trong ngày, bài fond là bài xã luận, xã thuyết, film du jour là chuyện thời sự có lời bàn Mao Tôn Cương, potin là tin đồn, tin không chính thức ..vv.. Ký giả Việt Nam chuyển danh từ “feuille de choue” thành Lá Cải.
Bây giờ những tiếng manchette, tin vedette, bài fond, film du jour đã biến mất trong ngôn ngữ của những người Việt Nam làm báo, riêng tiếng “Lá Cải” vẫn còn. Tâm viên, ý mã, tôi nghĩ lan man: dùng tiếng “Lá Cải” để gọi, một cách bất kính, một cách thô tục, nhưng ngụ ý hài hước, chọc quê, cho dzui dzui, tờ báo Việt Báo của bà chủ báo Nhã Ca, hay báo Sàigòn Nhỏ của bà chủ báo Hoàng Dược Thảo thì nghe được, nhưng gọi báo Người Việt của ông chủ báo Đỗ Ngọc Yến hay tờ Văn Nghệ Tiền Phong của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng là tờ “Lá Cải” thì nghe hình như không ổn. Bởi vì các bà chủ báo dù có bận việc tòa soạn, văn bài, nghị luận chính chị, chính em, quảng cáo, chi thu… nhưng xuân thu nhị kỳ, năm thì, mười họa, chắc cũng có những lúc vào bếp nấu món này, nướng món kia, nên các bà biết Lá Cải là cái gì, mấy ông chủ báo thì lá cải với lá cồn các ông cho là giống nhau.
Buổi sáng thu vàng năm 1960 trong tòa soạn nhật báo Sàigònmới ở Sài Gòn, thủ đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, nửa đêm tuyết trắng năm 2004 ở Rừng Phong lòng vòng Hoa Thịnh Đốn, tức Thành Hoa, Xứ Tình Nhân, Kỳ Hoa Đất Trích..! Thấm thoắt dzậy mà đã 44 mùa cóc chín đi qua cuộc đời..! Cám ơn bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Tiếng “Lá Cải” bà dùng gợi cho tôi nhớ tuổi thanh xuân của tôi ở Sài Gòn, thành phố thủ đô yêu thương mà tôi đã không giữ được. Và tôi thầm nói trong tim tôi… Em yêu ơi.. Năm 1960 ở Sài Gòn đôi ta rất trẻ. Năm ấy em mới hai bó lẻ năm sáu que, anh ba bó chẵn, anh đang ở trên đỉnh cao phong độ nhất đời anh. Đêm nay, trong thời gian cuối của cuộc đời đôi ta, anh nhớ lại và anh cảm động. Anh đã yêu em nhiều lắm nhưng hôm nay anh tiếc: ngày xưa khi đôi ta còn trẻ, anh đã không yêu em nhiều hơn..! Ước chi anh trẻ lại bốn mươi tuổi..! Nhưng đó là một đề tài khác. Thôi, không than, không thở nưã.., chuyện ngày tháng qua nhanh, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, sáng như tơ xanh, chiều tuyết trắng…xưa hơn trái đất, ai cũng già đi, chẳng ai trẻ mãi…, người ta già đi thì hổng sao, cho là tự nhiên, mình già đi thì kêu lên oái oái, thở ngắn, than dài…! Anh trở lại với “Nếu đi hết biển“:
TVT: Tôi nghĩ chúng ta không nên xen chuyện tiền bạc trần tục vào câu chuyện nghiêm chỉnh như thế này. Chị là nhà văn. Chị đánh giá như thế nào về sự giao lưu văn học trong và ngoài nước?
HB: Tôi sinh hoạt trong giới những người làm văn nghệ ở hải ngoại nên thường theo dõi ở lãnh vực này. Việc giao lưu sách vở, báo chí trong và ngoài nước chưa hoàn toàn tự do thoải mái, nhưng trong những năm gần đây, một vài tác phẩm có giá trị ở ngoài nước đã được phép chính thức in lại trong nước, như tập trường thiên Sông Côn Mùa Lũ của anh Nguyễn Mộng Giác, một số truyện ngắn của tôi và các bạn khác đã do Nhà xuất bản Phụ Nữ TP. Hồ Chí Minh in lại trong một tuyển tập, và sốt dẻo nhất, tôi được Hoàng Ngọc Tuấn ở Úc cho hay, quyển Văn Học Hiện đại và Hậu hiện đại qua Thực tiễn Sáng tác và góc nhìn Lý thuyết sẽ được Trung tâm Ngôn ngữ & Văn hóa Đông Tây hợp cùng với Đại Học Sư Phạm in lại ở Việt Nam. Thật là một tin vui, bõ công chúng tôi hợp sức làm chung tạp chí Hợp Lưu 12 năm trước đây, với cố gắng làm một cây cầu giới thiệu văn học trong nước với người nước ngoài và ngược lại. Ở hải ngoại, nhóm Hợp Lưu bị chụp mũ là cộng sản, thì ở trong nước lại cho là một bọn xịa, hoặc là diễn biến hòa bình. Rõ chán mớ đời!
Ở Mỹ, hình như, không ai nói những ông bà làm tờ tạp chí Hợp Lưu là Việt Cộng, chỉ có người nói những ông bà ấy là bọn tay sai không công, không được mời của Việt Cộng, là những người không được Việt Cộng nhòm ngó gì đến mà vẫn tự nguyện bưng đít Việt Cộng. Như lời bà Hoàng Bắc nói trên đây, tuy các ông bà Hợp Lưu bưng đít Bắc Cộng nhưng vẫn bị chúng coi là bọn tay sai của CIA. Nhưng nói là nói thế thôi, các ông bà làm tờ Hợp Lưu vẫn phây phây, vẫn cứ bưng đít Việt Cộng dài dài.
Tôi không được đọc trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ của ông Nguyễn Mộng Giác nên tôi không biết trong tác phẩm lớn và giá trị ấy - giá trị theo lời bà Hoàng Bắc - ông có viết gì về những thống khổ của dân Việt dưới ách cai trị tàn nghiệt của bọn công sản hay không. Chắc là không, bởi vì nếu tác phẩm có nội dung lên án bọn Việt Cộng, dù chỉ đả động xa sôi, bóng gió, sức mấy chúng nó cho in và bán trong nước. Kể cũng hay. Và kể cũng “khỉ nắm”. Chỉ cần bọn cộng sản nó cho in lại vài truyện ngắn, truyện dài của mình là khen nó tốt, nó chơi được. Nó đàn áp nhân dân, nó làm nhân dân đói khổ, nó tham nhũng dzàng trời, tối đất, nó ăn cắp tiền của nhân dân công khai, nó cắt đất dâng cho Tàu, nó bỏ tù mút chỉ những người khác. Mặc. Nó cho in lại mấy cái truyện của mình trong nước là nó tốt dzồi.
“Việc giao lưu sách vở báo chí trong và ngoài nước chưa hoàn toàn tự do thoải mái..” Kính thưa bà Nhà văn kiêm nhà Tư tưởng sâu sắc của Trung Tâm William Joiner, bà viết như thế phải chăng tôi có thể hiểu bà muốn nói “Việc giao lưu sách vở báo chí Việt giữa Orange County với Sài Gòn đã có nhưng chưa hoàn toàn tự do..” Nếu bà cho việc quyển truyện Sông Côn Mùa Lũ của ông Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, một truyện gì đó của ông Nhà văn Nhật Tiến, vài truyện ngắn của bà, tác phẩm của ông Nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn ..vv… được bọn Bắc Cộng cho in và bán trong nước là việc “giao lưu sách vở báo chí” thì thưa bà, sao bà dễ tính quá dzậy bà? Đừng nói đâu xa chỉ nói riêng ở Orange County, Cali thôi, đâu phải chỉ có ba ông Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến, Hoàng Ngọc Tuấn, và bà - bà Nhà văn Nguyễn Hoàng Bắc - là những người Việt viết tiểu thuyết? Bộ mấy ông vừa kể và bà là đại diện cho giới người Việt làm văn nghệ ở Mỹ dư? Nếu bọn Bắc Việt Cộng không đăng mấy cái truyện ngắn của bà trong một tuyển tập xuất bản ở Sài Gòn thì phải chăng bà đã không nói như bà đã nói? Là người Việt Nam sống ở Sài Gòn, chắc bà cũng thấy bọn Bắc Cộng chúng nó giết người dã man, khủng khiếp ra sao trong trận Tết Mậu Thân ở Huế? Chắc bà cũng thấy trong Tháng Ba, Tháng Tư năm 1975 đồng bào của bà vì ghê sợ bọn cộng sản mà liều chết chạy trốn chúng nó ra sao? Dù gì bà cũng đã sống mấy năm giữa lòng Sài Gòn đầy cờ đỏ và những bảng đỏ, chữ vàng xốn mắt “Không có gì..”, chắc bà cùng phải thấy Sài Gòn điêu tàn, tang thương, thấy người Sài Gòn bị chúng bắt đi tù mút chỉ, thấy bọn Bắc Cộng hành hạ người Sài Gòn, người Sài Gòn thù hận, khinh bỉ bọn Bắc Công đến như thế nào chứ? Người ngoại quốc người ta còn thấy, người ta còn thương, người ta còn phẫn hận thay, huống chi bà..! Dù sao bà cũng là người Viêt Nam. Vì bà thấy sống với chúng nó bà khổ, nên bà liều mạng bà xuống tầu ra biển. Hai mươi mấy năm qua, mặc ai ở quê nhà khổ sở, sống dzở, chết dzở, bà sống bình yên trên đất Mỹ, chỉ vì bọn cộng sản cho in và bán ở trong nước mấy cái truyện ngắn vô thưởng, vô phạt của bà mà bà tự nhận bà là bạn của chúng nó! Có thể nào bà trâng tráo, bà chai đá đến cái độ bà thản nhiên nói: “Nó đánh chúng mày kệ mẹ chúng mày, nó bồ mí bà, bà bồ mí nó!”
***
Khi mới viết bài này tôi tưởng Trường Đại Học Massachusetts Boston bỏ tiền ra cho Trung Tâm William Joiner thực hiện cuộc nghiên cứu và viết về cộng đồng người Việt sống ở Mỹ. Nhưng không phải thế. Trên tờ tạp chí Con Ong, Houston, Texas, số 145, có bài viết của ông Nguyễn Hữu Luyện, “người tù kiệt xuất” của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa; ông NH Luyện bị bọn Bắc Cộng nhốt tù gần ba mươi năm nhưng ông vẫn giữ nguyên tư cách người chiến sĩ tự do, giữ nguyên phong độ, kiên cường, không đầu hàng, không tuyệt vọng mặc dầu ông rơi vào tình trạng vô vọng trong nhiều năm dài, hiện ông là người được cộng đồng người Việt ở Mỹ ủy thác cho việc đứng đơn kiện Trung Tâm William Joiner.
Từ Chương Trình Nghiên Cứu “Reconstructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora” đến VỤ KIỆN W.J.C. Người viết: Nguyễn Hữu Luyện.
Từ cuối năm 1998, trường đại học Massachusetts Boston (UMass Boston) đã làm đề nghị xin tiền của Quỹ Rockefeller (Rockefeller Foundation) để thực hiện một chương trình nghiên cứu mang tên “(Re)constructing Identity and Place in the Vietnamese Diaspora”. Chương trình này nghiên cứu về Cộng Đồng người Việt trên khắp thế giới qua hai mốc thời gian: từ thời kỳ tị nạn cộng sản đến thời kỳ “hậu tị nạn” (post refugee era). Tới mùa thu năm 2000, Quỹ Rockfeller cấp cho UMass Boston một ngân khoản là $250,000 (hai trăm năm mươi ngàn Mỹ kim). Số tiền này được chuyển cho William Joiner Center (WJC), một bộ phận của UMass Boston, chuyên nghiên cứu về hậu quả xã hội của chiến tranh để thực hiện chương trình nghiên cứu nói trên.
Cái gọi là UMass Boston chỉ bày ra chuyện nghiên kíu cộng đồng Việt Nam tị nạn để xin tiền của Cơ sở Rockefeller, nếu không được cho tiền, cuộc nghiên kíu sẽ không có. Có tiền, việc trước hết là dùng tiền đó trả lương cho nhân viên. Những khoản tiền cấp như thế được gọi là “fund“, người Việt nói là “phân”, có “phân” những người trong Trung Tâm William Joiner, như ông Tiến sĩ Kevin Bowen, ăn “phân” trước, số “phân” còn lại được chia cho những người như đạo diễn Trần văn Thủy.
Từ Chương Trình Nghiên Cứu…. Người viết Nguyễn Hữu Luyện.
Vì chúng ta là chủ đề nghiên cứu của WJC/UMass Boston, và cũng vì tầm mức vô cùng quan trọng về giá trị lịch sử, văn học và văn hóa của cả ba triệu người Việt Nam tị nạn Cộng sản, chúng ta CÓ TRÁCH NHIỆM PHẢI QUAN TÂM tới việc làm của WJC. Nếu WJC hay Hà Nội viết về đề tài này với tư cách riêng của họ, chúng ta hoàn toàn không bận tâm, vì đó chỉ là những tác phẩm được viết theo quan điểm riêng của họ mà thôi. Nhưng đây là một quyết định tuyển chọn của Quỹ Rockefeller sau khi đã duyệt xét rất nhiều đề nghị của tất cả các trường Đại Học và các Trung Tâm nghiên cứu trên khắp thế giới. Do bởi danh xưng Chương Trình Học Bổng Nhân Văn Rockefeller đã làm cho chương trình nghiên cứu của WJC có tầm cỡ quốc tế và được tôn trọng khắp nơi, và sẽ được lưu giữ trong các Thư Viện Nghiên Cứu trên khắp thế giới.
(…..)
Phải nhìn nhận ngay rằng, nếu đây là một công trình nghiên cứu vô tư, thì quả thật là một cơ hội lớn, một vinh hạnh lớn để cho nền văn học và văn hóa của cộng đồng người Việt lưu vong đi vào kho tàng văn học lịch sử của nhân loại. NHƯNG, thật là mỉa mai và đau đớn, không phải riêng cho cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản, mà còn cho cả ngành Đại Học Hoa Kỳ nữa, vì cả một công trình lớn có quy mô quốc tế lại trở thành một công cụ phục vụ cho một âm mưu chính trị vô cùng trắng trợn và nhơ bẩn. Việc thực hiện chương trình nghiên cứu này đã trở thành một nghịch lý không thể chấp nhận được dưới bất cứ một cách nhìn nào mang tính vô tư. Sau đây là những vấn đề cần được nêu lên…(…)
Rất tiếc, tôi không thể đăng toàn bộ bài viết của ông Nguyễn Hữu Luyện. Trong bài viết ấy ông NH Luyện nêu ra những lý do bắt buộc cộng đồng người Việt ở Mỹ phải kiện WJC. Vụ kiện bị bà nhà văn Nguyễn Thị Hoàng Bắc khinh bỉ ban cho mấy tiếng “...nghe qua rồi bỏ“.
Nếu đi hết biển. Trang 89, 90. Trích:
Hoàng Bắc: Trung tâm William Joiner tặng cái grant anh Thủy đang làm đó cũng gây ra một vụ kiện, đang đưa nhau ra ba tòa quan lớn Mỹ đấy, chắc anh có nghe rồi! Tôi cũng nghe, nhưng nghe qua rồi bỏ. Anh có nhận xét gì không?
Trần Văn Thủy: Tôi chân ướt chân ráo qua đây làm sao mà nhận xét được. Các cụ bảo: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe.” Tôi nghe chị chứ.
HB: Không dám! Không dám! Nhưng anh liều mạng nghe thì tôi cũng liều mạng nói! Tôi cũng đọc được thêm một tài liệu khác nhận định về tính cách của các cộng đồng lưu vong. Trích đoạn được dịch và in trong tập “Văn học Hiện đại và Hậu Hiện đại” của tác giả Hoàng Ngọc Tuấn:
“Trong cuộc sống lưu vong ở các nước Âu châu và Bắc Mỹ những năm cuối thế kỷ XX, những người đàn ông đến từ những quốc gia chậm phát triển và nhiều rối loạn chính trị ở châu Mỹ La tinh rất dễ trở thành những con người thất bại. Vỡ mộng về một cuộc sống dễ dàng, cùng lúc nhận ra sự mất giá trị của bản thân trước xã hội mới qua những trở ngại trong ngôn ngữ và/hoặc trong khả năng kinh tế, cộng thêm tình trạng sống như những người không có một địa vị xã hội nào, họ thường có nguy cơ rơi vào những triệu chứng tâm lý đa nghi hoang tưởng (paranoia), vĩ cuồng (megalomenia), trầm uất (folie manfaco-megacolico), hay dằn vặt với khát vọng hồi hương. Để xây dựng giá trị bản thân trong xã hội mới, thay vì nỗ lực hội nhập và vươn lên từng bước với sự kiên nhẫn, nhiều người lao vào và bỏ nhiều thì giờ, sức lực và ngay cả tiền bạc để tạo nên những địa vị giả (pseudo-estado) trong những nhóm sinh hoạt chính trị mệnh yểu và đầy sự cạnh tranh cá nhân. Chính những điều này là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên những cuộc xung đột nội bộ các cộng đồng và sự mâu thuẫn hoặc đổ vỡ trong nhiều gia đình, vì trong lúc đó, đa số đàn bà thì thực tế hơn và do đó dễ hội nhập hơn vào đời sống mới.”
Nhận định này đúng với thực tế cộng đồng lưu vong Việt Nam ở Mỹ và ở vài quốc gia khác ở châu Âu, Úc. Riêng tại tiểu bang California nhận định này giúp chúng ta dễ dàng giải thích các hiện tượng chính phủ lưu vong mọc lên như nấm tại tiểu bang này, với đầy đủ các chức vụ từ tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, thứ trưởng, tổng tư lệnh quân đội cho tới tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng đều có đầy đủ tuốt luốt. Các chính phủ này mọc lên rồi tan đi, lại có các chính phủ khác thay thế.
TVT: Vui nhỉ! Tôi mà ở bên này tôi cũng lập chính phủ.
HB: Vậy sao? Nếu thế thì vừa vặn với nhận định vừa nêu trên của nhà tâm lý xã hội Pedro Lopez Pujo đối với đàn ông tị nạn! Những cuộc biểu tình rầm rộ, như anh biết đó, có khi lên tới vài chục ngàn người, như ban tổ chức từng phô trương, như cái lần để phản đối một anh chàng dở điên, dở khùng do những người thích ôm micro la hét giữa đám đông tổ chức, chỉ tổ tốn tiền thuế dân đóng góp để mướn cảnh sát địa phương canh giữ trật tự. Mọi chuyện sau đó thì cũng chìm xuồng. Vùng tôi ở, lâu lâu cũng có lác đác biểu tình chống lai rai, chống trong nước và chống ngoài nước. Gần đây nhất, là chống những ca sĩ trong nước ra ngoài trình diễn.
Anh VC nói: “Tôi mà ở bên này tôi cũng lập chính phủ..” Dzễ thôi. Tị nạn ở Mỹ anh Việt Nam nào lập chính phủ mà không được. Xứ Tự do mà. Nhưng ở xứ Bắc Cộng, đừng nói đến chuyện lập chính phủ, bố anh năn nỉ anh nói nửa câu chỉ trích bọn cộng sản cầm quyền anh cũng không dám.
Vì đây là bài viết về tập “Nếu đi hết biển” nên tôi không viết về những cái hèn mạt của bọn gọi là văn nghệ sĩ xứ Bắc Cộng, trong số có VC Trần Văn Thủy, “bạn” của những ông bà nhà văn Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Thị Hoàng Bắc. Tính chất hèn mạt của những kẻ gọi là văn nghệ sĩ Bắc Cộng bị chính anh già Tổng Bí Nguyễn Văn Linh của họ phơi trần truồng khi anh ta tuyên bố “...Cởi trói cho văn nghệ sĩ..” Một số ký giả Pháp gọi nền báo chí Việt Nam cộng sản là “la presse Vietnamienne museleé“: “Cái báo chí Việt Nam bị rọ mõm“. Người ta không bị rọ mõm, chỉ chó mới bị rọ mõm, người mà bị rọ mõm thì người còn khốn nạn hơn chó! Lại mới đây có một người làm thơ trong xứ Bắc Cộng phóng lên Internet bài thơ về bọn văn nghệ sĩ Bắc Cộng mà người làm thơ ví với loài chó, bài thơ trong có mấy câu, tôi nhớ không đúng nguyên văn:
Bảo câm mõm là câm mõm
Bảo vào gậm giường là chui vào gậm giường
Bảo sủa là tranh nhau sủa
Bảo ăn cứt là tranh nhau ăn cứt…
Vậy mà ở Mỹ vẫn có vài người Việt tị nạn cộng sản lấy làm vinh hạnh ngồi với những của nợ bị rọ mõm và chuyên ăn cứt.
Không thể đem bất cứ một cộng đồng tị nạn chính trị nào trên thế giới ra so sánh với cộng đồng dân Việt Nam tị nạn cộng sản. Dân Hung, dân Tiệp tị nạn là những người dân không chịu sống dưới sự cầm quyền độc ác của bọn cộng sản tiếm quyền trong nước họ, họ chưa bao giờ cầm súng bắn nhau trên chiến trường với bọn cộng sản, họ cũng không bị bọn cộng sản bỏ tù ngày nào; dân tị nạn Việt Nam là nhân dân một quốc gia bị bọn cộng sản xâm chiếm, bị cộng sản cướp hết của cải, nhà đất, dân tị nạn Việt Nam từng cầm súng bắn lại bọn cộng sản trong hai mươi năm. Cuộc vượt biển bằng thuyền của dân Việt Nam là cuộc tị nạn lớn nhất trong lịch sử loài người.
Ở Mỹ những chính phủ Việt Nam lưu vong, phục quốc mọc lên, tan đi.., sì đã nàm thao? Việc ấy cho thấy ở Mỹ người Việt sống tự do quá đỗi, người Việt ở Mỹ ai muốn làm gì cũng được, việc ấy chứng tỏ lòng người Việt tị nạn ở Mỹ sôi nổi, cháy lửa, người Việt ở Mỹ muốn có những phong trào, những lực lượng chống Cộng. Cứ nghe ai nói chống Cộng là người Việt tị nạn ủng hộ, đóng góp tiền gây quỹ, cứ nghe ai bị tố là tay sai cộng sản là người Việt khinh bỉ, chửi rủa. Chỉ vì người Việt tị nạn ở Mỹ căm thù cộng sản quá đỗi sâu nặng. Khi nghe nói có tên treo ảnh Già Hồ, những người căm phẫn đầu tiên đến phản đối trước tiệm của y là những ông già, bà lão. Khi thấy đồng bào đến mỗi ngày một đông, những kẻ lợi dụng mới nhẩy vào ăn có. Nếu số người biểu tình lên đến mấy chục ngàn người, tại sao lại không cho người ta phô trương?
Năm 1980, sau 24 tháng tù kéo dài trong ba năm, tôi trở về mái nhà xưa. Gặp tôi, anh bạn tôi là Phan Nghị nói: “Mày chịu khó đến Hội Văn Nghệ sinh hoạt đi. Một, hai tuần đến một lần cũng được. Mày có thể khai với bọn phường, quận là mày sinh hoạt ở Hội Văn Nghệ Thành Phố, mày sẽ đỡ bị chúng nó gọi ra kiểm điểm ở phường..” Những năm 1980, 1981, bọn cộng sản đang say men chiến thắng, tên Tổng Bí Lê Duẩn mặt sám đang bắt toàn dân “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội..”, việc vác mặt mo đến cái gọi là Hội Văn Nghệ Thành Phố để được yên thân là việc nên làm. Tôi đến Hội và ở đấy tôi thấy hai anh “phi cầm, phi thú” trong một buổi gọi là “sinh hoạt”.
Phi cầm, phi thú! Chừng ba ngày sau ngày TT. Ngô Đình Diệm bị bọn phản loạn bắn chết, một thư ngắn do ba nhà báo Chu Tử, Nguyễn Hoạt, Từ Chung ký tên, nhận cái tội trong những năm qua ba ông đã ngậm tăm không dám viết gì về những đau khổ của đồng bào, về những việc làm sai trái của chính phủ, ba ông tự nhận các ông là một thứ “phi cầm, phi thú”.
Phi cầm, phi thú là con dơi. Con dơi có cái đầu như con chuột, có vú nhưng lại có cánh như con chim. Đi với chim, con dơi nói:”Tôi có cánh, tôi cùng loài với anh”, đi với chuột, con dơi nói: “Tôi là chuột, đầu tôi, tai tôi, răng tôi giống hệt anh.” Quân tử Tầu dùng thành ngữ “phi cầm, phi thú” để gọi những anh chị đầu trơn như mỡ chui vào đâu cũng lọt.
Viễn Phương, Tổng thư ký Hội Văn Nghệ Giải Phóng Thành Phố, lên cái gọi là Thành ủy nghe bọn cán bộ Thành thông báo những cái gọi là nghị quyết của bọn gọi là Trung Ương, về Hội Văn Nghệ, Viễn Phương truyền đạt lại tinh thần những cái gọi là nghị quyết ấy cho bọn văn nghệ sĩ. Nghe mười, Viễn Phương về lõm bõm, lúng búng nói lại được ba, bốn, chẳng đâu ra đâu mà cũng chẳng ma nào cần nghe. Trong những buổi gọi là sinh hoạt như thế, bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn ngồi một bên, bọn gọi là văn nghệ Giải Phóng ngồi một bên, hai phe đối diện nhau. Hai anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn không muốn ngồi cùng bọn văn nghệ sĩ Sài Gòn chúng tôi, chắc hai anh khinh chúng tôi hay hai anh cảm thấy ánh mắt của chúng tôi khinh bỉ hai anh, nhưng hai anh không thể ngồi cùng hàng với bọn văn nghệ Giải Phóng, chúng không cho hai anh ngồi với chúng, hai anh tìm hai cái ghế ngồi riêng ở một bên cạnh.
Trong một lần nhìn thấy hai anh Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn ngồi xó ró bên cạnh như thế, tôi nhớ đến câu “phi cầm, phi thú” và tôi nghĩ: “Hai anh kia là hai anh phi cầm, phi thú.”
Hôm nay, một ngày Tháng Ba năm 2004, năm người tôi vừa kể tên, kể chuyện: Chu Tử, Nguyễn Hoạt, Từ Chung, Phạm Trọng Cầu, Trịnh Công Sơn đều không còn ở cõi đời này.
1980 ở Sài Gòn, 2004 ở Mỹ.. Sau 24 năm hôm nay tôi lại thấy ở Mỹ có những anh, những chị văn nghệ sĩ phi cầm, phi thú. Những anh, những chị văn nghệ sĩ phi cầm, phi thú ấy giống chúng tôi vì họ cũng từng là văn nghệ sĩ Sài Gòn như chúng tôi, họ cũng sống ở Mỹ như chúng tôi, giống chúng tôi nhưng họ lại thân mật với bọn cộng sản trong nước. Không biết họ có biết chỉ vì chúng tôi chống Cộng nên bọn Cộng sản mới làm thân với họ, mới o bế họ, chỉ vì tất cả anh em chúng tôi chống Cộng nên bọn Cộng mới bốc họ là “những nhà văn, những nhà tư tưởng sâu sắc, những người dũng cảm..” Họ được bọn cộng sản bốc như thế vì họ sống ở Mỹ, nếu họ sống ở Sài Gòn bọn cộng sản coi họ không bằng cục cứt.
Cũng có thể dù họ sống ở Mỹ bọn cộng sản cũng coi họ không bằng cục cứt nhưng chúng cứ bốc họ như thế vì chúng thấy chúng có thể dùng họ trong việc làm lợi cho chúng.
Tôi tạm ngừng ở đây.